Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÙ CANG CHẢI

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 25-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tòng Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Sanh.

2. Bà Sùng Thị Mỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý A Dà - Thẩm tra viên tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lý A Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST- HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Vàng A C, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1992 tại: huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã N; huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A B (đã chết) và bà Cháng Thị S, sinh năm 1953; Có vợ là Hàng Thị P, sinh năm 1995; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  2. Vàng A S1, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2003 tại: huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Páo C1, sinh năm 1982 và bà Giàng Thị C2, sinh năm 1984; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  3. Vàng A D, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2003 tại: huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Vảng S2 và bà Giàng Thị C3 (Đều đã chết); Có vợ là Giàng Thị V, sinh năm 2003; Con: có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  4. Giàng A P1, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1992 tại: huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A T, sinh năm 1966 và bà Thào Thị L, sinh năm 1967; Có vợ là Sùng Thị C4, sinh năm 1990; có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  5. Giàng A M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993 tại: Huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A T1, sinh năm 1966 và bà Giàng Thị L1, sinh năm 1967; Có vợ là Mùa Thị C5, sinh năm 1995; Con: có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Thào A C6, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Bản S, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
  • + Chị Hàng Thị P; sinh năm 1995; Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Thào A S3, sinh năm 1962; Địa chỉ: Bản S, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  • + Vàng A L2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A D1; Địa chỉ: Tổ E, thị trấn M, huyện M, Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4 năm 2024, Vàng A C, đi làm thuê và nghe được thông tin vợ là Hàng Thị P bỏ nhà đi theo người khác không biết đi đâu. Đến khoảng đầu tháng 8 năm 2024, C biết được vợ đang ở cùng nhà một người tên là Thào A C6, sinh năm 1985, trú tại xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái.

Khoảng 23 giờ 00 ngày 08/8/2024, C gọi Vàng A V1 (anh trai C) nói là tìm thấy vợ đi ở cùng người đàn ông khác ở xã M, huyện M và nhờ V1 đi cùng bảo vệ để C bắt P và C6 về để giải quyết, nếu đi thì C bẻ cây ở đường đánh dấu cứ đi theo nhưng V1 không đồng ý. Tiếp đó, C gọi cho Giàng A M, M nghe nhưng không nói gì, rồi sau đó tiếp tục gọi cho Vàng A D, Vàng A S1, Giàng A P1, đều là người cùng bản Lọng Cang, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La nói là đã tìm thấy vợ ở cùng một người ở xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái rồi nên nhờ mọi người đi giúp để C bắt Thào A C6 và Hàng Thị P, do sợ bên đấy đông người Chựa không bắt được thì được D, S1, P1 đồng ý, C hẹn khoảng 02-03 giờ sáng ngày 09/8/2024 thì cùng đi.

Khoảng 02 giờ ngày 09/8/2024, C tiếp tục gọi Vàng A L2, sinh năm 1985, Vàng A C7, sinh năm 1994, Vàng A S4, sinh năm 1991, Vàng A P2, sinh năm 1985 cùng ở bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, nhờ những người này đi cùng để giúp C bắt C6 và P, nếu đi thì đi theo đường Chựa đánh dấu, bẻ cành cây để ở đường nhưng những người này đều không đồng ý đi cùng. Sau đó Vàng A S1 điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26L1-196.09 đến đón C, C mang theo 02 dây thừng, trên đường đi thì gặp D đi xe mô tô biển kiểm soát 26L1-115.94 và P2 đi xe mô tô biển kiểm soát 26L1-209.90, sau đó tất cả cùng nhau đi đến nhà C6, khi đi đến xã M, huyện M thì C bẻ cành cây chỉ đường đi lên nhà C6 ở các ngã ba đường.

Khi đến gần nhà Thào A C6 thì C, D, S1, P2 dừng xe lại và để xe ở ven đường rồi cùng nhau đi bộ lên nhà C6. Lên đến nhà C6 thì C gọi C6 ra mở cửa nhà bếp để C và D, S1, P2 cùng vào. Khi vào nhà, Thào A C6 bỏ chạy theo đường cửa bếp ra cổng, C đuổi theo thì bắt được C6 ở gần cổng rồi kéo Chơ vào nhà. C bảo D, S1, P2 đứng canh cửa rồi tiếp tục bảo S1 đi lấy giúp cái dây thừng ở xe, sau đó S1 đi xuống lấy dây, C bảo D cầm tay C6 để C đi đến chỗ P ngủ kéo Pa dậy, khi S1 mang dây lên đến thì C bảo D, S1, P2 đóng cửa lại và canh cửa, C tiếp tục dùng dây thừng tự trói tay C6 và P lại vào cột nhà, sau đó C tát 02 cái vào mặt C6, 02 cái vào mặt P. Khi này Vàng A V1, Vàng A P2, Vàng A L2 mới đi đến nhà C6, còn Vàng A S4 đứng chờ ở dưới đường, thấy vậy Vàng A V1 gọi điện cho Vàng A T2 là phó bản Lọng Cang, xã N, huyện M hỏi bây giờ phải làm như thế nào thì T2 bảo phải hỏi trưởng bản nên T2 gọi điện cho Cháng A D2 (là trưởng bản Lọng Cang) thì D2 nói phải để cho chính quyền bên đó giải quyết. Sau đó T2 nói lại nội dung này cho V1 thì C nói thế thì nhờ mọi người gọi Công an viên và trưởng bản S, xã M đến giải quyết. Lúc này Thào A S3, sinh năm 1962 (anh trai Thào A C6) đang có mặt tại đây dẫn P2, L2 đi tìm trưởng bản nhưng trưởng bản không ở nhà nên quay về, khi về đến quán T5 thì thấy có số điện thoại của Vàng A N, sinh năm 1981 (phó bản Sáng Nhù) dán ở tường nên gọi điện cho N thì N nói đang ngủ ở lán ruộng, do đường bị sạt lở đất không về luôn được. Sau đó, N tắt máy rồi gọi điện cho Vàng A C8, sinh năm 1989 là thành viên tổ ANTT cơ sở đi đến trước.

Khi Vàng A C8 đến thì C đã đưa C6 và P ra khỏi nhà, lúc này Vàng A C8 đến và bảo C là “có gì thì vào trong nhà giải quyết, không được làm thế này”, tuy nhiên C không đồng ý và nói “Đưa về xã N để giải quyết”. Sau đó, C tiếp tục dẫn C6 và P đi cách nhà C6 khoảng 01km thì gặp Vàng A N và Vàng A L3 (là tổ trưởng và tổ phó tổ ANTT cơ sở bản Sáng Nhù) đến, Vàng A N yêu cầu C và những người đi cùng cởi trói cho C6, P rồi quay về bản để Bí thư, trưởng bản giải quyết nhưng C không đồng ý và tiếp tục đưa C6 và P đi. Đi được một đoạn thì thấy Giàng A M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26L1-176.09 đi đến nên C bảo với M là “Anh không mang xe đi nên nhờ chở C để đi giải quyết”, M đồng ý rồi M chở C6 ngồi giữa, C ngồi sau cùng, còn P thì được Su trở đi phía sau.

Lúc này, Vàng A N tiếp tục gọi thêm lực lượng ANTT cơ sở và đuổi theo nhóm của C, đuổi theo được khoảng 05km đến bản Màng Mủ, xã M, huyện M thì đuổi kịp nhóm của C và yêu cầu dừng lại, lúc này Vàng A C7 mới lên đến. Lực lượng ANTT tiếp tục giải thích, đồng thời yêu cầu nhóm người Chựa cởi trói cho C6, P và mời mọi người về UBND xã M để làm việc. Tại UBND xã M, Thào A C6 biết việc bản thân ở với P là sai nên nhờ Thào A S3 (anh trai ruột C6) thỏa thuận với Vàng A V1 (anh trai ruột C) sẽ tự nguyện bồi thường số tiền 22.000.000 đồng và đưa trước 10.000.000 đồng thì hai bên cùng đồng ý rồi C6 đưa cho C số tiền 10.000.000 đồng.

Sau khi giải quyết xong, Thào A C6 thấy bản thân bị đánh, trói mà vẫn phải bồi thường, Thào A C9 và nhóm người đi cùng không bị xử lý gì nên đã làm đơn tố giác gửi đến cơ quan chức năng đề nghị giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại Thào A C6 và Hàng Thị P và những người liên quan.

* Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân; Riêng bị cáo Giàng A M phạm tội lần đầu, tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể xem xét áp dụng đối với các bị cáo.

Tại biên bản giao nhận tiền bồi thường thiệt hại ngày 11/02/2025 các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại với tổng số tiền 10.000.000 đồng (Trong đó: Vàng A C bồi thường 04 triệu đồng; Vàng A S1, Vàng A D, Giàng A P1 và Giàng A M mỗi người có trách nhiệm bồi thường 1.500.000 đồng). Bị hại Thào A C6 đã nhận đủ số tiền trên tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm các khoản gì khác.

Thào A C6 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề ngày 11/02/2025 với nội dung là bản thân đã nhận được số tiền bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm nên đề nghị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Vàng A C, Vàng A S1, Vàng A D, Giàng A P1 và Giàng A M.

Quá trình điều tra, bị hại Hàng Thị P không có yêu cầu hay đề nghị các bị cáo phải bồi thường.

Cáo trạng số: 09/CT-VKS-MCC ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái: Truy tố các bị cáo Vàng A C, Vàng A S1, Vàng A D và Giàng A P1 về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm đ khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Giàng A M về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

  • - Bị cáo Vàng A C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 05 năm.
  • - Bị cáo Vàng A S1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 04 năm đến 05 năm.
  • - Bị cáo Vàng A D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 04 năm đến 05 năm.
  • - Bị cáo Giàng A P1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 04 năm đến 05 năm.
  • - Bị cáo Giàng A M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 02 năm đến 03 năm.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là người không có chức vụ nên không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thào A C6 đã nhận được tiền bồi thường nên không yêu cầu gì thêm; Bị hại Hàng Thị P không yêu cầu bồi thường, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị tiêu huỷ 02 đoạn dây thừng là vật chứng của vụ án.

Về án phí: Do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi bắt giữ người trái pháp luật của bản thân.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi mình đã thực hiện, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 09/8/2024 tại bản Sáng Nhù, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vàng A C, Vàng A D, Vàng A S1 và Giàng A P1 đã thực hiện hành vi bắt giữ anh T3 A C6 và chị Hàng Thị P (P là vợ của C). Khi đi đến bản M, xã M, huyện M thì gặp lực lượng an ninh trật tự giải thích, đồng thời yêu cầu nhóm người Chựa cởi trói cho C6, P và mời mọi người về UBND xã M để làm việc. Hành vi của các bị cáo Vàng A C, Vàng A D, Vàng A S1 và Giàng A P1 đã phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm đ khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Giàng A M có hành vi chở C6 về xã N, huyện M, tỉnh Sơn La để giải quyết. Khi đi đến bản M, xã M, huyện M thì gặp lực lượng an ninh trật tự giải thích, đồng thời yêu cầu C cởi trói cho C6. Hành vi của bị cáo Giàng A M đã phạm tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc “Bắt, giữ người trái pháp luật” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do của công dân, mà còn ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4].Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên ở vùng có điều kiện kinh tế- tại xã K, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; Sau khi phạm tội các bị cáo đã đã bồi thường thiệt hại; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Đồng phạm: Các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Vàng A C là người khởi xướng nên phải chịu trách nhiệm chính, các bị cáo còn lại là người giúp sức trong vụ án.

[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ rằng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ áp dụng chế định án phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án:

  • - 02 (hai) dây thừng màu xanh lá buộc thắt nút hai đầu (01 dây chiều dài 3,35m, đường kính 01cm; 01 chiều dài 3,05m, đường kính 01cm) tình trạnh đã qua sử dụng. Không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thào A C6 đã nhận được tiền bồi thường nên không yêu cầu gì thêm; Bị hại Hàng Thị P không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử xem xét.

[10]. Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

  • - Quá trình điều tra xác định Vàng A V1, Vàng A L2, Vàng A C7, Vàng A P2, Vàng A S4 được Vàng A C gọi nhờ đi bắt giữ Thào A C6 và Hàng Thị P nhưng những người này không đồng ý, tuy nhiên vì muốn biết sự việc như nào nên V1, L2, C7, P2, S4 đã tự điều khiển xe máy đi theo sự chỉ dẫn trước đó của Vàng A C. Khi đến nơi xảy ra vụ án, những người này không bàn bạc, tham gia thực hiện hành vi bắt giữ người trái pháp luật do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
  • - Đối với Vàng A T4, sinh năm 1972, trú tại bản Lọng Cang, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, trong lúc hai bên Vàng A C và Thào A C6 thỏa thuận tại Ủy ban nhân dân xã M thì C mới gọi điện cho Vàng A T4 đến xem giải quyết như nào thì một lúc sau T4 đến hai bên đã thỏa thuận xong, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
  • - Đối với thương tích của Thào A C6 và Hàng Thị P: Quá trình điều tra xác định Vàng A C tát 02 cái vào mặt của C6 và 02 cái vào mặt của P, không để lại thương tích, không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 134 và các điểm h khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 157 BLHS nên CQĐT không đề cập xử lý hình sự. Tuy nhiên hành vi của Vàng A C có căn cứ xác định là hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Cơ quan CSĐT đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện M để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định.
  • - Đối với việc Hàng Thị P về chung sống với Thào A C6: Quá trình điều tra xác định Thào A C6 và Hàng Thị P chưa bị xử phạt hành chính về “Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, do vậy hành vi trên của Thào A C6 và Hàng Thị P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi trên của Thào A C6 và Hàng Thị P đã vi phạm điểm b, c khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ. Cơ quan CSĐT đã chuyển tài liệu đến Ủy ban nhân dân huyện M để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định.
  • - Việc thỏa thuận giữa gia đình Thào A C6 và gia đình Vàng A C: Quá trình điều tra xác định do Thào A C6 biết bản thân ở cùng với người đã có chồng là sai nên đã chủ động xin được thỏa thuận bồi thường, quá trình thỏa thuận gia đình C không có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp gia đình Thào A C6, việc thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện nên không có dấu hiệu của tội phạm. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra vấn đề xử lý là có căn cứ.
  • - Đối với 04 chiếc xe mô tô: Xe mô tô BKS 26L1-196.06 của bị cáo Vàng A S1, xe mô tô BKS 26L1- 115.94 của bị cáo Vàng A D, xe mô tô BKS 26L1- 209.90 của bị cáo Giàng A P1 và xe mô tô BKS 26L1- 176.09 của bị cáo Giàng A M sử dụng để đi đến nhà bắt, giữ Thào A C6 và Hàng Thị P là tài sản chung của gia đình các bị cáo, không phải là phương tiện sử dụng để trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra vấn đề thu giữ, xử lý đối với các xe mô tô trên là có căn cứ.

[11]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Vàng A C, Vàng A S1, Vàng A D, Giàng A P1 phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật"; Giàng A M phạm tội "Giữ người trái pháp luật".

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 157; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

  • + Xử phạt Vàng A C 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt Vàng A S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt bị cáo Vàng A D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt bị cáo Giàng A P1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

  • + Xử phạt bị cáo Giàng A M 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Vàng A C, Vàng A S1, Vàng A D, Giàng A P1 và Giàng A M cho Ủy ban nhân dân xã N; huyện M, tỉnh Sơn La để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) dây thừng màu xanh lá buộc thắt nút hai đầu (01 dây chiều dài 3,35m, đường kính 01cm; 01 chiều dài 3,05m, đường kính 01cm) tình trạng đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Các bị cáo Vàng A C, Vàng A S1, Vàng A D, Giàng A P1 và Giàng A M được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKS ND huyện Mù Cang Chải;
  • - Công an tỉnh Yên Bái;
  • - THADS huyện Mù Cang Chải;
  • - UBND xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo (5);
  • - Bị hại; (2)
  • - Hồ sơ THA phạt tù;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

đã ký

Tòng Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "bắt, giữ người trái pháp luật"

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 03 giờ sáng ngày 09/8/2024 tại bản Sáng Nhù, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vàng A C, Vàng A D, Vàng A S1 và Giàng A P1 đã thực hiện hành vi bắt giữ anh T3 A C6 và chị Hàng Thị P (P là vợ của C). Khi đi đến bản M, xã M, huyện M thì gặp lực lượng an ninh trật tự giải thích, đồng thời yêu cầu nhóm người Chựa cởi trói cho C6, P và mời mọi người về UBND xã M để làm việc. Hành vi của các bị cáo Vàng A C, Vàng A D, Vàng A S1 và Giàng A P1 đã phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger