|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 07-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Mạnh và ông Vũ Đăng Đông
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Lâm Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn và ông Nguyễn Xuân H - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Hoàng Văn G, sinh năm 1987; nơi sinh: xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Tiền sự: không;
Tiền án:
- Bản án số 170 ngày 30/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/3/2012, bị cáo chấp hành xong bản án.
- Bản án số 10 ngày 17/01/2014, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/5/2015, bị cáo chấp hành xong bản án.
- Bản án số 12 ngày 18/01/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/10/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến tháng 08/2023 bị cáo được miễn chấp hành phần án phí.
- Bản án số 39 ngày 10/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Ngày 30/11/2022, bị cáo chấp hành xong bản án.
Nhân thân:
Ngày 18/10/2013, Công an xã B, huyện  xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 20/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Đào Sĩ L, sinh năm 1983; nơi sinh: xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc V và bà Vũ Thị N (đã chết); có vợ là Đào Thị T (đã ly hôn) và 01 con; Tiền sự: không;
Tiền án:
Bản án số 28 ngày 22/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 17/01/2023 bị cáo chấp hành xong bản án.
Nhân thân:
- Bản án số 04 ngày 28/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- Bản án số 41 ngày 30/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án số 04 ngày 28/01/2015, L phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 09 tháng tù. Ngày 28/4/2017, bị cáo chấp hành xong bản án.
- Ngày 14/8/2014, Công an huyện  xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Ngày 20/8/2020, Công an thị xã M xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 20/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Có mặt.
- Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965; nơi sinh: xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T1 và bà Nguyễn Thị X; có chồng là Trần Văn C1 và 03 con; Tiền sự, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974 và anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1983; Đều có địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T2, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn G và Đào Sĩ L là bạn bè quen biết xã hội. Khoảng 12 giờ ngày 09/11/2024, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM đeo biển kiểm soát 89H6 - 9287 đến nhà G ở thôn Đ, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên chơi. Trong lúc ngồi chơi, G rủ L đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, L đồng ý. L điều khiển xe mô tô chở G đi lang thang trên đường thuộc địa phận huyện B, tỉnh Hải Dương để tìm xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi đến thôn P, xã H, huyện B, G phát hiện tại lán xe trước cửa nhà ông Nguyễn Văn Đ có dựng 1 xe máy điện hiệu NISHIBIKE không đeo biển kiểm soát. Quan sát thấy không có người nên G bảo L dừng xe đứng cảnh giới để G lấy. Giảng dùng kéo bằng kim loại mang sẵn trong người chọc mở ổ khóa rồi điều khiển xe điện cùng L đi về hướng huyện Â, tỉnh Hưng Yên, tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đi đến cửa hàng phế liệu của Nguyễn Thị H1 ở thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, L ngồi trên xe máy đợi ở cổng, G đi xe vừa trộm cắp được vào gặp H1 nói “Cô có mua xe không?”, H1 hỏi về nguồn gốc xe thì G nói là xe điện, G lấy trộm của người nhà mang đi bán lấy tiền. H1 đồng ý mua với số tiền 800.000 đồng. G và L chia nhau mỗi người 400.000 đồng.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, L và G tiếp tục đi đến địa phận huyện B để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa hiệu sách T3 thuộc thôn P, xã T, huyện B, G phát hiện xe máy điện nhãn ZUBIKE của anh Nguyễn Văn Đ1 để ở cửa, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện nên bảo L đi vòng xe quay lại đứng cảnh giới để G vào trộm cắp. G đi bộ đến chỗ để xe, dùng tay xoay vặn chìa mở khóa điện rồi đi về hướng huyện Â, tỉnh Hưng Yên tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cửa hàng S ở thôn B, xã B, huyện Â, L và G bán xe máy điện cho anh Lê Văn T2 (anh T2 không biết đó là tài sản do L và G trộm cắp mà có) với số tiền 1.600.000 đồng, G và L chia nhau mỗi người 800.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được, L và G đã chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi tiến hành rà soát đối tượng, xác định L và G là hai người trộm cắp 02 xe máy điện nêu trên. Ngày 14/11/2024, Cơ quan điều tra triệu tập L và G đến làm việc, L và G khai nhận hành vi của mình. Ngày 12/11/2024, H1 và anh T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 2 xe máy điện đã mua của L và G.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện B kết luận: Xe máy điện nhãn hiệu ZUBIKE của anh Nguyễn Văn Đ1 trị giá 2.133.000 đồng; xe máy điện nhãn hiệu NISHIBIKE của ông Nguyễn Văn Đ trị giá 2.016.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 4.149.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 21-01-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Hoàng Văn G về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Đào Sĩ L về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thị H1 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.
- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn G: xử phạt bị cáo G từ 33 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Sĩ L: xử phạt bị cáo L từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H1: xử phạt bị cáo H1 từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà số tiền 1.200.000₫ của bị cáo Hoàng Văn G và 1.200.000₫ của bị cáo Hoàng Sĩ L1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 09/11/2024, tại thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Hoàng Văn G và Đào Sĩ L lén lút chiếm đoạt xe máy điện nhãn hiệu NISHIBIKE, trị giá 2.016.000 đồng của ông Nguyễn Văn Đ. Sau khi trộm cắp được tài sản, L và G mang đến bán cho Nguyễn Thị H1, H1 biết rõ nguồn gốc xe do L và G trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với số tiền 800.000 đồng. Tiếp đến, khoảng 20 giờ cùng ngày, tại trước cửa hiệu sách T3, thôn P, xã T, huyện B, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, L và G lén lút chiếm đoạt xe máy điện nhãn hiệu ZUBIKE, trị giá 2.133.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ1. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo G, L trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; hành vi của bị cáo H1 xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo G đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Hoàng Văn G về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Đào Sĩ L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thị H1 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Về nhân thân: Các bị cáo G, L đều có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo G, L đều 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều cấu thành tội phạm độc lập và bị xét xử trong cùng vụ án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo L đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điềm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Trong vụ án này, bị cáo G và L đồng phạm giản đơn, trong đó G là người đề xuất, thực hiện hành vi trộm cắp một cách tích cực nên giữ vai trò cao hơn L. Bị cáo H1 chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo G, L khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với từng bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Đối với bị cáo H1, có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, những người bị hại là anh Đ1 và ông Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác; số tiền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T2 bỏ ra để mua xe máy điện của các bị cáo, anh T2 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại, anh T2 tự nguyện cho các bị cáo số tiền này nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe máy điện của ông Đ và anh Đ1, ngày 19/12/2024, Cơ quan CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu SYM đeo biển số 89H6 – 9287 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan CSĐT tiếp tục quản lý tại kho vật chứng Công an huyện B để tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý theo quy định là phù hợp.
- Đối với chiếc kéo bị cáo G dùng vào việc phạm tội đã làm rơi trên đường, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có để xử lý.
- Đối với số tiền 800.000₫ là tiền các bị cáo bán xe trộm cắp được cho bị cáo Nguyễn Thị H1, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 1.600.000₫ là tiền các bị cáo bán xe trộm cắp được cho anh Lê Văn T2, khi mua xe anh T2 không biết chiếc xe là do các bị cáo trộm cắp mà có, chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên các bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả cho anh T2 số tiền nêu trên. Tuy nhiên, anh T2 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại, tự nguyện cho các bị cáo nên không truy thu số tiền này của các bị cáo.
- Anh Lê Văn T2 mua xe của G, L nhưng không biết chiếc xe là do các bị cáo trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Thị H1 bị kết án nhưng thuộc trường hợp người cao tuổi nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn G;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Sĩ L;
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H1;
Căn cứ điểm điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
-
Xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Văn G 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/11/2024.
- Bị cáo Đào Sĩ L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/11/2024.
- Bị cáo Nguyễn Thị H1 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L, mỗi bị cáo với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị H1.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà số tiền 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Văn G và 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Sĩ L1.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Hoàng Văn G, Đào Sĩ L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H1.
- Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Nam |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ ngày 09/11/2024, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Hoàng Văn G và Đào Sĩ L lén lút chiếm đoạt xe máy điện nhãn hiệu NISHIBIKE, trị giá 2.016.000 đồng của ông Nguyễn Văn Đ. Sau khi trộm cắp được tài sản, L và G mang đến bán cho Nguyễn Thị H.
