TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 07/2025/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thảo và ông Phan Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025, đối với bị cáo:
Trần Quốc T; sinh ngày 12/5/1981; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân K, sinh năm 1945 và bà Trần Thị N, sinh năm 1947; vợ: 02 vợ đã ly hôn (chị Nguyễn Thị B, ly hôn năm 2013 và chị Phạm Thị Thúy D, ly hôn năm 2019); con: có 02 đứa con, lớn sinh năm 2010 (vợ 1), đứa nhỏ sinh năm 2014 (vợ 2); tiền sự: không; tiền án: ngày 28/10/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 44/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2023 (chưa được xóa án tích); nhân thân: ngày 13/12/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 04/2006/HS-ST, đã chấp hành xong bản án (đã xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 02/12/2024 đến ngày 05/12/2024 và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; hiện tại ngoại ở địa phương; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đức L; sinh năm 1976; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N, sinh năm 1947; nghề nghiệp: Hưu trí; địa chỉ thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Lê Hữu T1, sinh năm 1968 (có mặt); ông Nguyễn Đức K1, sinh năm 1945 (có mặt); bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953 (vắng mặt); anh Đặng Văn T2, sinh năm 1987 (vắng mặt); anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1989 (có mặt); anh Trịnh Xuân T4, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt); đều địa chỉ thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Chị Phan Thị P, sinh năm 1989; địa chỉ thôn T, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1987; địa chỉ tổ dân phố H, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 07/6/2024, Trần Quốc T đang ở nhà thì có anh Nguyễn Đức L là hàng xóm ở thôn V, xã H đến nhờ T chở đi mua điện thoại ở thị trấn H, thì T đồng ý. Sau khi mua được điện thoại anh L tiếp tục nhờ T chở đi chơi, rủ cùng nhau đi ăn uống, hát Karaoke tại quán D1 tại tổ dân phố A, thị trấn H. Quá trình hát Karaoke, Lương bỏ về trước không trả tiền nên T phải cầm cố điện thoại của mình để lại ở quán gán nợ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi về nhà tìm anh L để lấy tiền đi trả tiền hát, chuộc điện thoại nhưng không thấy anh L nên T bức xúc làm vỡ một số vỏ chai bia và chén bát ăn đang để giữa sàn nhà anh L. Sau đó, T quay lại thị trấn H thì gặp anh L tại quán 686 đường H rồi cùng nhau tiếp tục ăn uống. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, T chở anh L về thôn V, xã H. T đi vào nhà bà Nguyễn Thị H, hàng xóm ngồi chơi, còn L đi bộ về nhà mình thấy chén bát và vỏ chai bia ở nền nhà bị xáo trộn nên sang nhà bố mình là ông Nguyễn Đức K1 hỏi thì biết do T làm. Anh Nguyễn Đức L chửi bới thách thức thì T đang ở nhà bà H nghe anh L chửi mình nên đi sang ngõ nhà ông K1. L thấy T đi bộ qua nên cầm chiếc liềm và đèn pin chạy ra để đánh T, còn T nhặt một gậy tre dài khoảng 80 cm, một đầu vót nhọn (ở ngõ nhà ông K1) cầm sẵn trên tay. Cả hai lao vào đánh nhau, anh L dùng liềm chém gây thương tích cho T ở tay trái và khớp gối trái. T dùng hai tay cầm gậy tre đánh trúng đầu và vùng trán của anh L, rồi ngồi lên người anh L dùng tay phải đấm vào mặt và dùng gậy tre đánh nhiều cái vào vùng lưng của anh
L. Sau khi đánh, thấy anh L nằm bất động thì T không đánh nữa và vứt gậy tre xuống mương nước gần đó, điều khiển xe đi mua băng gạc tự băng vết thương của mình rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Nguyễn Đức L bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện H, đến ngày 14/6/2024 thì ra viện. Đến ngày 02/12/2024, Trần Quốc T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 180/LKTTCT-TTPY&GĐYK ngày 28/6/2024 của Trung tâm P1 thuộc Sở y tế tỉnh H, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức L: Vùng đỉnh đầu khối sưng nề khám hiện tại không thấy tổn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%; Vùng trán bên phải sẹo vết thương kích thước (06 x 05) cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%; Vùng khoang miệng hàm dưới sẹo vết thương kích thước (2,3 x 0,3) cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%; Môi dưới bên trái vết thương đang liền sẹo kích thước (01 x 0,2) cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; Gãy xương gò má và cung tiếp xương gò má bên phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%; Gãy bờ ngoài xương hàm bên phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%; Vùng bả vai trái và vùng thắt lưng trái khám hiện tại không để lại vết thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể 0%. Áp dụng phương pháp cộng xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 23%.
Vùng đỉnh đầu, vùng bả vai trái và vùng thắt lưng trái khám hiện tại không để lại vết tích nên không có căn cứ xác định vật gây thương tích; Sẹo vết thương ở vùng trán bên phải và môi dưới bên trái do vật sắc tác động vào gây nên; Gãy xương gò má, cung tiếp xương gò má bên phải và gãy bờ ngoài xoang hàm bên phải do vật tày tác động gây nên.
Tại bản Kết luận giám định số 402/LKTTCT-TTPY&GĐYK ngày 27/12/2024 của Trung tâm P1 thuộc Sở y tế tỉnh H, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Quốc T tại thời điểm giám định là: Mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái sẹo vết thương kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; Mặt sau ngoài 1/3 dưới sẹo vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%; Mạng sườn trái vết biến đổi sắc tố da kích thước (2,3 x 04) cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%; Mặt trước khớp gối trái sẹo vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%; Áp dụng phương pháp cộng xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 04%. Vết thương tích do vật sắc tác động vào gây nên.
Về vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc liềm có chiều dài 39 cm, cán bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi liềm bằng sắt cong dài 27 cm, bản liềm rộng 2,5 cm (do ông Nguyễn Đức K1 giao nộp), hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự bảo quản, chờ xử lý. Đối với chiếc đèn pin trong quá trình đưa L đi cấp cứu hiện đã bị thất lạc; đối vơi chiếc gậy tre mà Trần Quốc T sử dụng để gây thương tích cho Nguyễn Đức L, sau đó T đã vứt gậy tre xuống mương nước và bỏ trốn nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về bồi thường thiệt hại phần dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Trần Quốc T đã thỏa thuận bồi thường dân sự cho anh Nguyễn Đức L số tiền 25.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền anh L không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Quốc T.
Còn Trần Quốc T không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu anh Nguyễn Đức L phải bồi thường về dân sự.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS-HK ngày 23/01/2025 của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Quốc T khai nhận hành vi của mình như nội dung trên. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về chăm sóc cha mẹ già.
Bị hại anh Nguyễn Đức L trình bày hai bên đã thỏa thuận xong phần dân sự nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội Cố ý gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù; đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy chiếc liềm và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét
công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, do bức xúc việc anh Nguyễn Đức L mời đi hát Karaoke nhưng không thanh toán tiền mà bỏ về trước và việc Trần Quốc T làm vỡ một số đồ đạc trong nhà L nên giữa anh L và Trần Quốc T nảy sinh mâu thuẫn và xô xát, đánh nhau. Trong lúc vật lộn đánh nhau, Trần Quốc T đã dùng gậy tre và tay đánh làm anh Nguyễn Đức L bị đa chấn thương, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%; còn anh Nguyễn Đức L dùng liềm đánh gây tổn thương cơ thể cho Trần Quốc T là 04%.
[3] Hành vi của bị cáo dùng gậy đánh gây thương tích là thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và gây hậu quả tổn thương cơ thể cho bị hại là 23%, nên đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố bị cáo Trần Quốc T theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn, do đó cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo về đầu thú; bị hại cũng có một phần lỗi và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bố là ông Trần Văn K2 được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất và mẹ là bà Trần Thị N được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét bị cáo có nhân thân xấu 2006 bị kết án 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích), đến năm 2022 bị kết án 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích) nhưng không chịu tu dưỡng mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần xét xử nghiêm và cách lý bị cáo khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, bị hại có một phần lỗi và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử
phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập cộng đồng xã hội.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng, mức hình phạt, biện pháp xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong phần dân sự nay bị hại anh Nguyễn Đức L không còn yêu cầu bồi thường; bà Trần Thị N cũng không yêu cầu bị cáo bồi hoàn tiền đã bồi thường do đó hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc liềm có chiều dài 39cm, cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng sắt cong dài 27cm là vật chứng trong vụ án hiện đã cũ, không có ai yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[10] Liên quan đến vụ án, đối với hành vi của Nguyễn Đức L dùng liềm gây thương tích cho Trần Quốc T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nhưng T không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên anh L không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi làm hư hỏng tài sản của Trần Quốc T tại nhà anh L, các đồ vật bị hư hỏng là vỏ chai thủy tinh, chén bát đã cũ không còn giá trị, anh L không yêu cầu định giá tài sản nên Trần Quốc T không phải chịu trách nhiệm về hành vi này.
[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Bị cáo, bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/12/2024 đến ngày 05/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc liềm có chiều dài 39cm, cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi liềm bằng sắt cong dài 27cm, bản liềm rộng 2,5cm (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc T phạm tội Cố ý gây thương tích
