TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 18/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Hoàng Trí Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang
Ông Vũ Công Sế
Ông Trần Quốc Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 194/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, đối với:
Bị cáo: Lê Ngọc L (tức: B), sinh năm 1980 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Bùi Thị T1 (sinh năm 1956); là con thứ tư trong gia đình có 07 anh chị em; Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 19/8/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại: Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: A N, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Đăng Vĩnh H, Văn phòng L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
* Người làm chứng:
- - Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Hồ Phú K, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- - Ông Hồ Lê Anh V, sinh năm 1983; Địa chỉ: F N, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- - Ông Nguyễn Hồ Phú Q, sinh năm 2004; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h00' ngày 19/8/2024, Lê Ngọc L xảy ra xích mích, cãi nhau liên quan đến ranh giới đất với hàng xóm là bà Trần Thị C ở tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B; ném mũ bảo hiểm, gạch, đá sang sân nhà bà C; nên người nhà bà C điện thoại báo Công an phường L. Lãnh đạo Công an phường L đã phân công đồng chí Nguyễn Minh T2 (cán bộ) phối hợp cùng 05 người khác thuộc lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở của phường mặc sắc phục của ngành đến hiện trường giải quyết vụ việc theo quy định.
Cho rằng gia đình bà C gọi người đến đánh mình nên L chuẩn bị 01 con dao tự chế dài 80cm, cạnh sắc, bản rộng 03cm cầm trên tay và thủ trong túi quần 01 con dao dài 17cm, 01 cây kéo dài 18cm đợi sẵn ở hiện trường. Khi đồng chí T2 cùng lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở đến hiện trường thực thi công vụ Công an nhân dân thì L chủ động tấn công, vung dao chém một nhát trúng vào vùng mặt đồng chí T2 và kháng cự quyết liệt trong quá trình bị khống chế, gây ra các thương tích ở cánh tay phải và sườn phải của đồng chí T2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng; tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Lê Ngọc L về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, sau đó chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC02) để điều tra theo thẩm quyền.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 314/KLTTCT-PYBRVT ngày 23/8/2024 và Kết luận giám định bổ sung số 365/KLTTCT-PYBRVT của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với bị hại Nguyễn Minh T2 xác định:
- “- Kết quả khám giám định: 02 sẹo vùng mặt, 02 sẹo nhỏ ở nướu răng và cánh tay phải, 01 sẹo lớn vùng ngực.
- - Kết quả cận lâm sàng: Chưa ghi nhận bất thường về xương hàm trên và xương hàm dưới. Răng cửa và răng nanh mất 05 cái gồm các răng R21, R22, R31, R41, R42. Mẻ răng R43, R44.
- - Xác định vật gây thương tích, chiều hướng, cơ chế hình thành thương tích:
- + Thương tích 1 (vùng mặt): Phù hợp với tổn thương cơ bản là “Vết chém hay băm bổ” được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; theo chiều hướng từ trên xuống dưới, trước ra sau.
- + Thương tích 2 (vùng ngực phải): Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ phải sang trái.
- + Thương tích 3 (cánh tay phải): Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.
- - Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh T2 tại thời điểm giám định là 23% (Hai mươi ba phần trăm)”.
* Kết luận giám định AND số 5552/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Dấu vết màu nâu đỏ trên con dao tự chế dài 80cm, rộng 03cm và tại vị trí số 02 hiện trường vụ án có ADN của ông Nguyễn Minh T2” (BL 115–147).
Quá trình điều tra, L đã khai nhận và diễn tả hành vi phạm tội như đã nêu trên, công nhận kết quả điều tra. Lời khai của L phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng về bối cảnh, diễn biến sự việc; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đánh giá diễn biến sự việc, tính chất hành vi do Lê Ngọc L thực hiện, xét thấy chỉ vì nghi ngờ gia đình bà C gọi người đến đánh mình nên L chuẩn bị 01 con dao tự chế dài 80cm, cạnh sắc, bản rộng 03cm cầm trên tay và thủ trong túi quần 01 con dao dài 17cm, 01 cây kéo dài 18cm đợi sẵn ở hiện trường. Khi đồng chí T2 cùng lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở mặc sắc phục đến hiện trường thực thi công vụ Công an nhân dân đã bị L chủ động tấn công, vung dao cầm trên tay chém một nhát trúng vào vùng mặt là vùng trọng yếu trên cơ thể đồng chí T2 và kháng cự quyết liệt trong quá trình bị khống chế. Hành vi của L thể hiện tính chất côn đồ hung hãn, cố ý tước đoạt tính mạng người thi hành công vụ, việc nạn nhân không chết là ngoài ý muốn của L do được cứu chữa kịp thời nhưng cũng bị nhiều thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%. Do đó, hành vi của L đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.
* Vật chứng vụ án: Đã chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý (BL116-117), gồm:
- - 01 (một) con dao tự chế, cạnh sắc, dài 80cm, bản rộng 03cm là công cụ L sử dụng gây án;
- - 01 (một) con dao dài 17cm và 01 cây kéo dài 18cm màu xanh Long thủ sẵn trong túi quần, chưa sử dụng.
- - 04 (bốn) miếng gạch ống bị vỡ không rõ hình dạng;
- - 01 (một) cục đá không rõ hình dạng;
- - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ thu giữ tại nhà bà C do L ném qua.
* Trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Minh T2 yêu cầu Lê Ngọc L bồi thường 235 triệu đồng. Lê Ngọc L chưa bồi thường (BL 172–174).
2. Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSBRVT-P2 ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Lê Ngọc L về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng thể hiện, và đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Minh T2 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi năm triệu đồng) thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo yêu cầu của bị hại.
Trong bản luận tội, vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Giết người”; áp dụng các điểm d, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 12 (Mười hai) – 13 (Mười ba) năm tù; buộc bị cáo Lê Ngọc L bồi thường cho bị hại Nguyễn Minh T2 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao tự chế, cạnh sắc, dài 80cm, bản rộng 03cm; 01 (một) con dao dài 17cm; 01 (một) cây kéo dài 18cm màu xanh; 04 (bốn) miếng gạch ống bị vỡ không rõ hình dạng; 01 (một) cục đá không rõ hình dạng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa:
4.1. Luật sư Hoàng Đăng Vĩnh H phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:
Thống nhất về tội danh “Giết người” và khung hình phạt theo các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự; thời điểm xảy ra sự việc vào lúc trời tối, ảnh hưởng đến tầm nhìn của bị cáo; bản thân bị cáo có dấu hiệu tâm lý không được ổn định, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mất sớm; việc tấn công bị hại do bị cáo tưởng người nhà hàng xóm gọi người đến đánh bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố.
4.2. Bị cáo Lê Ngọc L nhất trí với bào chữa của Luật sư, bị cáo cho rằng mình không hung hăng như người làm chứng trình bày.
4.3. Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp:
Bị hại không hề có mâu thuẫn với bị cáo; bị cáo suy nghĩ một chiều, cho rằng bị hại sẽ đánh mình mà thực hiện hành vi phạm tội, nhưng thực tế lại không như vậy. Tại phiên tòa, bị cáo khai rằng mình sẽ đánh chém bất kì ai bên nhà bà C nếu như họ đến nhà bị cáo, thể hiện rõ tính côn đồ, hung hãn của bị cáo. Khi bị khống chế, bị cáo đã chửi bới, đòi đánh chém những người khống chế mình. Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ hung hãn và thực tế là bị cáo đã tấn công người thi hành công vụ mặc sắc phục, đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Luật sư trình bày bị cáo có “Dấu hiệu tâm lý” là không có căn cứ. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị.
4.4. Luật sư Hoàng Đăng Vĩnh H đối đáp:
Giữ nguyên quan điểm đã trình bày; người nhà bị cáo cho biết bị cáo sống với mẹ già 70 tuổi, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn; sau khi trao đổi với người nhà bị cáo, Luật sư mới biết sự việc trước đây bị cáo bị điện giật nên tâm sinh lý của bị cáo không được ổn định. Đề nghị Hội đồng xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã được Hội đồng xét xử làm rõ, nên Luật sư không tranh luận về nội dung này.
5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội, nuôi mẹ già hơn 68 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Khoảng 18h00' ngày 19/8/2024, Lê Ngọc L xảy ra xích mích, cãi nhau liên quan đến ranh giới đất với hàng xóm là bà Trần Thị C ở tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B; ném mũ bảo hiểm, gạch, đá sang sân nhà bà C; nên người nhà bà C điện thoại báo Công an phường L. Lãnh đạo Công an phường L đã phân công đồng chí Nguyễn Minh T2 (cán bộ) phối hợp cùng 05 người thuộc lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở của phường mặc sắc phục của ngành đến hiện trường giải quyết vụ việc theo quy định. Cho rằng gia đình bà C gọi người đến đánh mình nên L chuẩn bị 01 con dao tự chế dài 80cm, cạnh sắc, bản rộng 03cm cầm trên tay và thủ trong túi quần 01 con dao dài 17cm, 01 cây kéo dài 18cm đợi sẵn ở hiện trường. Khi đồng chí T2 cùng lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở mặc sắc phục đến hiện trường thực thi công vụ Công an nhân dân thì L chủ động bất ngờ tấn công, vung dao chém một nhát trúng vào vùng mặt là vùng trọng yếu trên cơ thể đồng chí T2 và kháng cự quyết liệt trong quá trình bị khống chế.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Giết người” theo các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ; gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Từ mâu thuẫn nhỏ nhặt với hàng xóm, cho rằng bị hại đến đánh mình mà bị cáo đã chuẩn bị dao, kéo chủ động bất ngờ tấn công, chém vào mặt bị hại Nguyễn Minh T2 đang thực thi công vụ Công an nhân dân.
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, biết rõ pháp luật hình sự bảo vệ tính mạng của công dân, biết việc bị hại đến hiện trường nơi xảy ra mâu thuẫn giữa bị cáo và hàng xóm để thực thi công vụ giữ gìn an ninh, biết việc dùng dao bất ngờ chém vào mặt là vùng trọng yếu trên cơ thể hoàn toàn có thể tước đoạt tính mạng của bị hại, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, có tính chất côn đồ, với ý chí là cố ý tước đoạt tính mạng của người đang thực thi công vụ. Bị hại bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 23% do được đưa đi cấp cứu kịp thời, hậu quả chết người không xảy ra, nằm ngoài mong muốn của bị cáo và diễn biến vụ việc.
Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, trình độ học vấn thấp nên hạn chế trong việc nhận thức pháp luật, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cần tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vì không còn giá trị sử dụng: 01 (một) con dao tự chế, cạnh sắc, dài 80cm, bản rộng 03cm; 01 (một) con dao dài 17cm; 01 (một) cây kéo dài 18cm màu xanh; 04 (bốn) miếng gạch ống bị vỡ không rõ hình dạng; 01 (một) cục đá không rõ hình dạng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Minh T2 yêu cầu bị cáo Lê Ngọc L bồi thường 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng). Bị cáo nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại vì đây là các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật. Đây là yêu cầu hoàn toàn hợp pháp của bị hại, nên cần tuyên buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm theo yêu cầu của bị hại.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Giết người” (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt).
Áp dụng các điểm d, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Lê Ngọc L bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Minh T2 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tự chế, cạnh sắc, dài 80cm, bản rộng 03cm; 01 (một) con dao dài 17cm; 01 (một) cây kéo dài 18cm màu xanh; 04 (bốn) miếng gạch ống bị vỡ không rõ hình dạng; 01 (một) cục đá không rõ hình dạng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ; hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 25/BB-CTHADS ngày 17/12/2024.
4. Án phí sơ thẩm:
Bị cáo Lê Ngọc L nộp 11.950.000 đồng (Mười một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Bắc |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về giết người (phạm tội chưa đạt)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người (phạm tội chưa đạt)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc L - Giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt
