TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 23-01-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Lê Hoàng Út |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Văn Hưng |
| Ông Trịnh Ngọc Hồng |
-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
TRẦN THỊ Á, sinh năm: 1993 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm: 1965 và bà Tiết Thị D1, sinh năm: 1970; Đã từng có chồng là Phạm Thanh T, sinh năm: 1991 (đã ly hôn); Có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 551/QĐ-XPHC ngày 15/12/2023 của Công an thành phố B đã xử phạt Trần Thị Á số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2024. (Có mặt)
- Người làm chứng:
- Tiết Vâng T4, sinh năm: 2001; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Nguyễn Đoàn Thanh X, sinh năm: 1980; Nơi cư trú: số B, khu phố A, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Huỳnh Lê Thanh T1, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: số E, ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Võ Huỳnh Phúc H, sinh năm: 1975; Nơi cư trú: số A, ấp M, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Nguyễn Minh T2, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: số C, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Phan Thanh N, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Dương Quang P, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: số A, ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Phạm Hoàng N1, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: số A, ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Thái Minh T3, sinh năm: 1994; Nơi cư trú: số A, ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Bùi Văn S, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: số A, ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Dương Thanh C, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/9/2023, Trần Thị Á đến khu vực gần cầu H thuộc địa phận xã B, thành phố B gặp và mua của đối tượng tên H1 (không rõ họ tên và địa chỉ) 2.000.000 đồng ma túy loại “khây” (là ma túy loại Ketamine) và “kẹo” (là ma túy loại MDMA) mang về cất giấu trong phòng ngủ của Á tại nhà thuê ở số G, ấp M, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 02/9/2023, Á và bạn trai là Nguyễn Minh T2 về nghỉ tại nhà cho thuê nêu trên, đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày Phạm Hoàng N1, Phan Thanh N, Dương Quang P, Thái Minh T3, Bùi Văn S, Dương Thanh C là bạn của T2 ghé xin ngủ nhờ. Khoảng 00 giờ 25 phút ngày 03/9/2023, Tổ tuần tra Công an thành phố B phối hợp với Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính nhà cho thuê số G, ấp M, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Khi Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra phòng ngủ của Trần Thị Á thì Á chủ động khai nhận bản thân có cất giấu ma túy để sử dụng và lấy từ trong ngăn kéo bàn trang điểm 01 túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ bên trong có 01 viên nén màu đỏ, không rõ hình dạng, kích thước và 01 miếng nén màu đỏ không rõ hình dạng, kích thước Á khai nhận là ma túy loại “kẹo” của Á. Sau đó, Á tiếp tục giao nộp 01 túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng, Á khai nhận là ma túy loại “khây” được cất bên trong 01 hộp kim loại hình tròn, màu xanh để ở kệ trên cùng của bàn trang điểm. Á khai số ma túy Lực lượng Công an thu giữ là của Á cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Á.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ bên trong có 01 viên nén màu đỏ, không rõ hình dạng; 01 (một) miếng nén màu đỏ không rõ hình dạng nghi ma túy được niêm phong trong bì ký hiệu M.
- 01 (một) túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1.
Các phong bì niêm phong ký hiệu M và M1 đều có các chữ ký, ghi tên Trần Duy C1, Võ Hữu Phúc H2, Nguyễn Thanh K, Trần Thị Á và dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Tiến hành khám xét nhà cho thuê số G, ấp M, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre, lực lượng Công an thu giữ: 02 tờ tiền polyme mỗi tờ tiền mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng, các tờ tiền được quấn thành hình tròn, dạng ống hút, Á khai nhận là dụng cụ của bản thân sử dụng để hút ma túy dạng “khây” (là ma túy loại Ketamine).
Tại Kết luận giám định số 683/2023/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) viên nén màu đỏ không rõ hình dạng và 01 (một) miếng nén màu đỏ không rõ hình dạng đựng trong 01 (một) túi nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; loại MDMA; khối lượng: 0,5140 gam. Tinh thể màu trắng dựng trong 01 (một) túi nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý; loại Ketamine; khối lượng: 1,4606 gam. Kèm theo Kết luận giám định: Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.
Tại bản cáo trạng số 97/CT-VKSTPBT ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Trần Thị Á về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Trần Thị Á khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- Về phần trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thị Á từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt bổ sụng: đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- Về phần xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định); Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 tờ tiền polyme mỗi tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai và vi phạm pháp luật, bị cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, người làm chứng Tiết V, Nguyễn Đoàn Thanh X, Huỳnh Lê Thanh T1, Võ Huỳnh Phúc H, Phan Thanh N và Dương Thanh C vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên sự vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [3] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Á tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh phạm tội quả tang, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 03/9/2023, tại nhà số G, ấp M, xã B, thành phố B nơi Tiết Vâng T4 thuê và cho Trần Thị Ánh Ở, Trần Thị Á đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,5140 gam ma tuý loại MDMA và 1,4606 gam ma túy loại Ketamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ tang vật.
- [4] Bị cáo Trần Thị Á là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,5140 gam ma tuý loại MDMA và 1,4606 gam ma túy loại Ketamine với lỗi cố ý, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Thị Á đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- [5] Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, tinh thần, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, là nguyên nhân chính dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma túy cần phải xử lý nghiêm các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển... trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.
- [6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng như thành khẩn khai báo và đang có nghĩa vụ nuôi con nhỏ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
- [7] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [8] Hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [9] Về phần xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án hiện đang thu giữ, bao gồm: Chất ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 683/2023 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Duy C1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 02 tờ tiền polyme mỗi tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng. Xét thấy, chất ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 03 tiền bị cáo sử dụng để làm dụng cụ sử dụng ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- [10] Đối với đối tượng tên H1 không rõ lai lịch nên kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm, khi nào làm việc được sẽ xem xét giải quyết theo quy định.
- [11] Đối với Nguyễn Đoàn Thanh X là chủ nhà và Tiết Vâng T4 là người đứng tên trên hợp đồng thuê nhà số G, ấp M, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre cho bị cáo ở không biết bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ ma túy; Nguyễn Minh T2, Phạm Hoàng N1, Phan Thanh N, Dương Quang P, Thái Minh T3, Bùi Văn S, Dương Thanh C cùng ở trong nhà khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện nhưng không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan có thẩm quyền không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp. Đối với việc Nguyễn Minh T2, Phạm Hoàng N1, Phan Thanh N, Dương Quang P, Thái Minh T3, Bùi Văn S, Dương Thanh C xét nghiệm dương tính với ma túy nhưng các đối tượng khai sử dụng ma túy ở nơi khác, không có căn cứ chứng minh được các đối tượng sử dụng ma túy ở nhà của bị cáo và không chứng minh được bị cáo có liên quan đến việc sử dụng ma túy của các đối tượng nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Việc bị cáo và các đối tượng dương tính với ma túy đã bị Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên ghi nhận.
- [12] Đối với việc bị cáo Trần Thị Á khai báo không đúng sự thật, cung cấp thông tin sai sự thật tại phiên tòa Phúc thẩm dẫn đến vụ án bị cấp Phúc thẩm hủy để điều tra lại, do Á không phải là người làm chứng nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Á về tội “Cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối” quy định tại Điều 382 Bộ luật Hình sự.
- [13] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Á phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Á phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo: Trần Thị Á 01 (Một) năm 6 (S1) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 683/2023 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Duy C1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 tờ tiền polyme mỗi tờ tiền mệnh giá 10.000 (Mười nghìn) đồng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng.
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý)
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Thị Á phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Út |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm 6 tháng tù
