Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh
  • Bà Nguyễn Thị Đẹp
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu M (Tên gọi khác: Sữa B), sinh ngày 12/10/1995; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số D, Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1974 (chết) và con bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1975; Anh, chị, em: Không có; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự; Tiền án: Không; Tạm giữ: Từ ngày 15/10/2024 đến 18/10/2024; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (Có mặt).
  2. Chị Lâm Thị Cẩm T1, sinh năm 1994 (Có mặt).

Cùng nơi cư trú: Số D, Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Ngọc T2, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Số A - 114, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).

  1. Chị Trương Thanh T3, sinh năm 1970.

Nơi cư trú: Số A, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Số D, Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (Có mặt).

  1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959.

Nơi cư trú: Số C, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/10/2024, Nguyễn Hữu M, sinh năm 1995, Nơi cư trú số D Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ biết được nhà số D Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ do bà Nguyễn Thị L là cô ruột M làm chủ không có ai ở nhà nên thực hiện việc trộm tài sản. Nguyễn Hữu M leo từ cửa sổ nhà M rồi đi ra cửa sau nhà của bà L và dùng tua vít đem theo nạy cửa nhà sau đi vào nhà đến phòng của chị Lâm Thị Cẩm T1 (con bà L) mở cửa vào tìm lấy trên bàn 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng của chị T1. Sau đó M tiếp tục vào phòng của bà L và dùng dùng tua vít cạy tủ gỗ tìm lấy trong túi áo số tiền 9.000.000 đồng của bà L rồi đi ra ngoài bằng đường mà M đã đột nhập vào. Cũng với phương pháp và thủ đoạn trên vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, M tiếp tục vào nhà bà L, lục tìm trong tủ, phòng bà L phát hiện và lấy các tài sản gồm:

  • 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng, có gắn mặt bằng kim loại vàng.
  • 03 chiếc nhẫn bằng kim loại vàng.
  • 01 chiếc lắc đeo tay hình bằng kim loại vàng.
  • 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng.

Sau khi lấy trộm tài sản, M đi đến tiệm V” số 112-114, L, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ bán cho chị Trương Thanh T3 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại vàng 24K với số tiền 38.300.000 đồng.

Nguyễn Hữu M lấy một phần tiền mua các tài sản gồm: 01 tai nghe không dây hiệu OPPO, 01 túi đeo bằng da, 01 áo vải jean, 02 đồng hồ hiệu Rolex, 01 nhẫn vàng giả và nạp tiền điện thoại. Còn lại 45.400.000 đồng.

Đến 17 giờ 35 phút ngày 15/10/2024, Nguyễn Hữu M đến Công an xã T, thành phố S đầu thú và khai nhận tòa bộ hành vi lấy tài sản của chị Lâm Thị Cẩm T1 và bà Nguyễn Thị L. Nguyễn Hữu M giao nộp lại Công an thu giữ tài sản gồm:

  • Tài sản chiếm đoạt của bà L gồm: 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng, 02 chiếc nhẫn bằng kim loại vàng, 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng.
  • Tiền bán tài sản chiếm đoạt của bà L mà có là 45.4000.000 đồng.
  • Tài sản M lấy tiền bán tài sản chiếm đoạt của bà L mua mà có gồm: 01 tai nghe không dây hiệu OPPO, 01 túi đeo bằng da, 01 áo vải jeam, 02 đồng hồ hiệu Rolex, 01 nhẫn vàng giả.
  • Tài sản của M: 01 điện thoại động OPPO kèm theo sim số 0357834154 và 0931571137.

Ngoài ra, trong quá trình xác minh thì bà Nguyễn Thị Bé H (cô ruột của M) phát hiện trong nhà của M và giao nộp cho Công an tạm giữ gồm:

  • 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng mà M đã chiếm đoạt của chị T1.
  • 01 cây tua vít dẹp, thân bằng bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm, là dụng cụ M sử dụng để nạy cửa nhà bà L.

Cơ quan Công an còn tạm giữ 01 tệp video có ghi hình lúc M bán nhẫn vàng, được trích xuất từ Camera tại tiệm V1, làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại kết luận định giá tài sản số: 58/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận:

  1. 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng có chiều dài 50cm, chiều rộng 0,5cm, có đóng ký hiệu “HT2 23K 5 CHI2”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 95,66%, có khối lượng 18,758 gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 41.333.333 đồng.
  2. 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình trái tim, có đóng ký hiệu “23K HT 10”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 95,83%, có khối lượng 3,747 gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 8.266.667 đồng.
  3. 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng hình tròn có hoa văn, có đóng ký hiệu “KH2”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 62,74%, có khối lượng 0,323 gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 428.000 đồng.
  4. 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng có chiều dài 35cm, chiều rộng 0,1cm, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 64,41%, có khối lượng 1,967 gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 2.695.667 đồng.
  5. 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình tròn có hoa văn, có đóng ký hiệu “K”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 68,18%, có khối lượng 0,378 gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 520.333 đồng.
  6. 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng có chiều dài 45cm, chiều rộng 0,15cm, có đóng ký hiệu “MQ75”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 65,24%, có khối lượng 4,313gam. Vào ngày 13/10/2024 trị giá 6.447.667 đồng.
  7. 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng có chiều dài 43cm, chiều rộng 0,1cm, có đóng ký hiệu “P 680”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 67,18%, có khối lượng 5,014gam. Vào ngày 13/10/2024 trị giá 7.219.333 đồng.
  8. 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng có gắn đá màu đỏ, có đóng ký hiệu “HT 23K 2CHI2”, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 96,08%, có tổng khối lượng 9,915gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 16.533.333 đồng.
  9. 02 (Hai) bông tai bằng kim loại màu vàng có đính đá màu trắng, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 70,23%, có tổng khối lượng 0,953gam. Vào ngày 14/10/2024 trị giá 1.121.667 đồng.
  10. 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình hoa có 04 cánh, có đính đá màu trắng, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 66,65%, có tổng khối lượng 1,222gam. Vào ngày 13/10/2024 trị giá 1.446.667 đồng.
  11. 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính các viên đá màu trắng, có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 66,63%, có tổng khối lượng 1,135gam. Vào ngày 13/10/2024 trị giá 977.667 đồng.

- Tổng giá trị tài sản định giá nêu trên là: 86.990.334 (Tám mươi sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng)

  1. 01 (một) chiếc nhẫn (cà rá) bằng vàng 24K trên có hình bông hoa, trọng lượng 02 chỉ. Không thu hồi được, vào ngày 14/10/2024 trị giá 8.266.667 đồng/01 chỉ x 02 chỉ = 16.533.334 đồng.
  2. 01 (một) chiếc lắc đeo tay hình mắc xích bằng vàng 24K. Trọng lượng 05 chỉ. Không thu hồi được, vào ngày 14/10/2024 trị giá 8.266.667 đồng/01 chỉ x 05 chỉ = 41.333.335 đồng.

Tổng trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 14/10/2024 là 144.857.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 144.857.000 đồng (trị giá vàng) + 9.000.000 đồng (tiền mặt) = 153.857.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L toàn bộ số tài sản M giao nộp trên và hoàn trả cho chị Lâm Thị Cẩm T1 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng. Bà L và chị T1 không yêu cầu M bồi thường gì thêm.

Tài sản, vật chứng hiện đang tạm giữ:

  • 01 (một) cây tua vít dẹp, thân bằng bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm.
  • 01 (một) điện thoại động OPPO kèm theo sim số 0357834154 và 0931571137 thu giữa của M.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSTPSĐ ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy 01 cây tua vít dẹp, thân bằng bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tiếp tục quản lý 01 điện thoại động màu trắng hiệu OPPO kèm theo sim số 0357834154 và 0931571137 để đảm bảo thi hành án cho bị can M.
  • Tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ vụ án: 01 tệp video được lưu trong 01 USB được đặt trong phong bì màu trắng, niêm phong kín, niêm phong số 1532 ghi ngày 08/11/2024, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên Đặng Huy P, Nguyễn Giang S.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Hữu M: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận. Về hình phạt, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến của bị hại bà Nguyễn Thị L: Bị hại đã nhận lại số vàng bị mất và số tiền bị cáo giao nộp. Đối với 01 chiếc nhãn (cà rá) bằng vàng 24k có trọng lượng 02 chỉ và 01 chiếc lắc đeo tay bằng vàng 24K trọng lượng 05 chỉ bị bị cáo bán, bị hại không yêu cầu bị cáo trả lại, bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của bị hại chị Lâm Thị Cẩm T1: Bị hại đã nhận lại đủ số vàng bị bị cáo chiếm đoạt, bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Về trách nhiệm hình sự, xin Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định như sau: Bị cáo Nguyễn Hữu M đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản nên trong khoảng thời gian từ ngày 13/10/2024 đến ngày 14/10/2024, tại nhà số D Rạch Ô, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ, bị cáo M đã lén lút 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại Nguyễn Thị L, Lâm Thị Cẩm T1 với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 153.857.000 đồng, cụ thể như sau:

- Lần 1: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/10/2024 bị cáo chiếm đoạt của chị Lâm Thị Cẩm T1 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng, có mặt hình hoa 04 cánh và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng, có mặt dây chuyền đính các viên đa màu trắng của chị T1 có giá trị là 16.091.334 đồng và số tiền 9.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị L.

- Lần 2: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, bị cáo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị L 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng, có gắn mặt bằng kim loại vàng, 03 chiếc nhẫn bằng kim loại vàng, 01 chiếc lắc đeo tay hình bằng kim loại vàng, 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng có giá trị là 128.765.666 đồng.

Từ những căn cứ nêu trên, đã đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo là phạm tội, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a)...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

....".

[3]. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều sẽ bị xử lý. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân, chăm lo cho gia đình, làm tấm gương tốt để con cái noi theo; nhưng bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, để lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích vụ lợi cá nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm táo bạo, liều lĩnh, thực hiện tội phạm ngay ban ngày, đối tượng bị chiếm đoạt tài sản là cô ruột bị cáo. Do đó, xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hữu M thực hiện 02 lần hành vi chiếm đoạt tài sản, mội lần giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng nên hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo nộp lại tài sản chiếm đoạt và đồng ý nộp lại tài sản bị mua để bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại L, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đến Công an đầu thú, trong giai đoạn điều tra bị hại bà L có đơn không yêu cầu xem xét xử lý về mặt hình sự đối với bị cáo M và tại phiên tòa bị hại bà L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo và đồng thời là phù hợp với đề nghị của bị hại L.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Lâm Thị Cẩm T1 đã nhận lại tài bị cáo chiếm đoạt là 02 sợ dây chuyền bằng vàng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

- Bị hại Nguyễn Thị L: Bị hại đã nhận lại số vàng bị cáo chiếm đoạt. Riêng đối với tài sản bị cáo đã bán, không thu hồi được là 01 chiếc nhãn (cà rá) bằng vàng 24k có trọng lượng 02 chỉ, 01 chiếc lắc đeo tay bằng vàng 24K trọng lượng 05 chỉ và số tiền 9.000.000 đồng, bị hại L không yêu cầu bị cáo trả lại tài sản đã bán là 01 chiếc nhẫn và 01 chiếc lắc trên, bị hại L đồng ý nhận lại số tiền bị cáo nộp 45.400.000 đồng và tài sản bị cáo mua từ tiền bán tài sản trộm là 01 tai nghe không dây hiệu OPPO mua với giá 1.290.000 đồng, 01 túi đeo bằng da mua với giá 300.000 đồng, 01 áo vải jeam mau với giá 400.000 đồng, 02 đồng hồ hiệu R mua với giá 3.980.000 đồng, 01 nhẫn vàng giả mua với giá 120.000 đồng, tổng cộng là 6.090.000 đồng, bị hại L không yêu cầu bị cáo M bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cây tua vít dẹp, thân bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm, được niêm phong trong túi ny-lon trong suốt, dán niêm phong bằng giấy trắng ghi ngày 17/10/2024, đóng dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Bé H và Điều tra viên Nguyễn Giang S là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại động hiệu OPPO, màu trắng kèm theo sim số 0357834154 và 0931571137 được dán niêm phong bằng giấy trắng ghi ngày 12/11/2024, đóng dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hữu M (Đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu M, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo M.

- Đối với 01 USB chứa 01 tệp video có ghi hình lúc M bán nhẫn vàng, được trích xuất từ Camera tại tiệm V1 Nguyễn cần lưu vào hồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án.

[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về áp dụng điều luật (không áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) và về đề nghị mức hình phạt là chưa phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9]. Đối với anh Trần Ngọc T2, chị Trương Thanh T3 có mua vàng do bị cáo M bán nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu M 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt nhưng trừ đi thời gian bị cáo tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 18/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy 01 cây tua vít dẹp, thân bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm, được niêm phong trong túi ny-lon trong suốt, dán niêm phong bằng giấy trắng ghi ngày 17/10/2024, đóng dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Bé H và Điều tra viên Nguyễn Giang S.
  • Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại động hiệu OPPO, màu trắng kèm theo sim số 0357834154 và 0931571137 được dán niêm phong bằng giấy trắng ghi ngày 12/11/2024, đóng dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hữu M (Đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) thu giữ của bị cáo M.
  • (Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý, theo biên bản giao, nhận nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/01/2025).
  • Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa 01 tệp video có ghi hình lúc M bán nhẫn vàng, được trích xuất từ Camera tại tiệm V1, được đặt trong phong bì màu trắng, niêm phong kín, niêm phong số 1532 ghi ngày 08/11/2024, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên Đặng Huy P, Nguyễn Giang S.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Công an TP Sa Đéc;
  • (bộ phận hồ sơ nghiệp vụ)
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Sa Đéc;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QL,NVLQ;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuấn Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 2 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger