Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HD

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD - TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Anh Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú và bà Hà Thị Thúy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên tòa xét xử ngày 19/12/2024; Thông báo số 01/TB-TA ngày 12/11/2024; Thông báo số 02/TB-TA ngày 30 tháng 12 năm 2024; Thông báo số 03/TB-TA ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố HD về thay đổi thời gian mở phiên tòa, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1964 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Không; Số CCCD: [...], cấp ngày 22/12/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số A P, khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N; vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; có 03 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25 ngày 14/10/2021, Công an tỉnh H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 19/10/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2

2. Hoàng Văn B, sinh năm 1967 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Không; Số CCCD: [...], cấp ngày 15/04/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số H phố B, khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Ông Hoàng Văn Ý, sinh năm 1925 (đã chết); con bà Phạm Thị T1, sinh năm 1927 (đã chết); vợ là Bùi Thị L, sinh năm 1976; có 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Chưa; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Không; Số CCCD: [...], cấp ngày15/8/2017 tại Cục Cảnh sát đăng ký quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và con bà Nguyễn Thị T2; vợ là Nguyễn Thu N1, sinh năm 1976; có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Chưa; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

4. Phạm Thị H1, sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Mai M; Số CCCD: [...], cấp ngày 11/08/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1952; chồng là Bùi Quang M1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Chưa; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác điều tra nghiệp vụ, Phòng C1 Công an tỉnh H phát hiện nghi vấn Nguyễn Ngọc H có biểu hiện đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho những người chơi. Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 07/3/2024, Phòng C1, Công an tỉnh H phối hợp cùng Công an phường C, thành phố H kiểm tra nhà của H ở số A ngõ A phố P, phường C, thành phố H, phát hiện H đang sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim số 0326.189.318, đăng nhập tài khoản zalo tên “T” để nhận các số lô, số đề. H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim số 0326.189.318, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã tiến hành cho H giải trình nội dung trong điện thoại của H xác định có nội dung tin nhắn với tài khoản zalo “7Y”; “Mật Ngọt”, “Nguyenvandong”, “E V”, “G G7”, “Sỹ Móc” bán số lô, số đề. Tiến hành lấy lời khai H xác nhận Hoàng Văn B là chủ

3

tài khoản zalo “7Y”, Phạm Thị H1 là chủ tài khoản zalo “Mật Ngọt”, Nguyễn Văn Đ là chủ tài khoản zalo “Nguyenvandong” nhắn tin để mua các số lô, số đề trái phép với H. Sau khi Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc, B, H1, Đ khai nhận đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của H. Huệ giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus số imei 353287070075847 màu vàng, lắp sim số 0934.270.252; Đông giao nộp 01 điện thoại di động Redmi Note 9S màu xanh, lắp sim số 0917.730.010; Bẩy giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy CHP 2349; IMEI 1: 861063057421956; IMEI 2: 861063057421949, lắp sim số 0772395739.

Vụ án được điều tra làm rõ như sau: Nguyễn Ngọc H, Phạm Thị H1, Nguyễn Văn Đ và Hoàng Văn B có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Cuối năm 2023, H nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép. Đầu tháng 2/2024, H gặp người đàn ông tên M2 ở thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; khi nói chuyện, M2 có nói với H về việc nhận bán số lô, số đề, nếu H có số lô, số đề thì chuyển cho M2 để nhận tiền hoa hồng. H đồng ý và kết bạn trên ứng dụng zalo với M2 có tài khoản “M2 sai gon".

Hình thức chơi lô, đề như sau: Người chơi mua số đề với số tiền từ 1.000 đồng trở lên, mua số lô theo điểm (19.000 đồng/ 1 điểm lô). Số đề được quy định so với 2 số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết Miền B2 mở thưởng cùng ngày. Nếu số đề trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng số tiền bằng 70 lần số tiền đã bỏ ra mua trước đó. Đối với số lô thường, thì được quy định so với 2 số cuối của tất cả các giải trong kết quả xổ số kiến thiết Miền B. Nếu số lô đã mua trùng với 2 số cuối của tất cả các giải thì người chơi thắng số tiền bằng: (số điểm x số lần lặp lại) x 70.000đ/1 điểm. Lô xiên gồm 1 cặp số lô thường, được so với 2 số cuối của tất cả các giải trong kết quả xổ số kiến thiết Miền B, xiên 2 gồm 2 số lô trúng giải, xiên 3 gồm cả 3 số lô trúng giải, xiên 4 gồm cả 4 số lô trúng giải. Nếu xiên 2, 3, 4 trúng thì thắng số tiền lần lượt gấp 10 lần, 40 lần, 100 lần số tiền bỏ ra để mua số lô xiên đó. Số đề 3 càng được so với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng người chơi thắng số tiền bằng 300 lần số tiền bỏ ra mua số đề ba càng đó. Ngược lại, người mua không trúng thì người bán sẽ được hưởng tất cả số tiền của người mua đã bỏ ra mua các số lô, số đề đó.

Trong khoảng thời gian từ 16 giờ 38 phút đến 18 giờ 25 phút ngày 07/3/2024, tại nhà của H ở số A P, phường C, thành phố H, H sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu xanh, lắp sim số 0326.189.318 đăng ký tài khoản zalo “T” để bán trái phép số lô, số đề cho những người mua cụ thể như sau:

- Khoảng 16 giờ 38 phút ngày 07/3/2024, khi đang ở nhà tại khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9s màu xanh lắp sim số 0917.730.010 đăng nhập tài khoản zalo tên “Nguyenvandong” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số đề: Đầu 6 gồm: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số 900.000 đồng = 9.000.000

4

đồng; mua các số đề 60, 61, 62, 65, 67 mỗi số 200.000 đồng = 1.000.000 đồng. Tổng số tiền Đ mua các số đề của H là 10.000.000 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/3/2024, do thời điểm H bị bắt chưa có kết quả giải đặc biệt xổ số miền B nên các số đề Đ mua không trúng.

- Khoảng 18 giờ 17 phút ngày 07/3/2024, khi đang ở nhà tại khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Thị H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng lắp sim số 0934.270.252 đăng nhập tài khoản zalo tên “Mật Ngọt” đăng ký bằng số điện thoại 0896.963.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “Thanh Hà” của H để mua 64 số đề gồm: 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 100.000 đồng. Tổng số tiền H1 mua các số đề của H là 6.400.000 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/3/2024, do thời điểm H bị bắt chưa có kết quả giải đặc biệt xổ số miền B nên số đề 47 H1 mua không trúng.

- Khoảng 18 giờ 04 phút ngày 07/3/2024, khi đang ở nhà tại số H B, khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Hoàng Văn B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen dùng tài khoản zalo tên “7Y” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số các số lô, số đề. Cụ thể:

Đề 01, 10, đầu 1 (10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19), 77, 27, 72, 56, 66, 03, 30, 10, 25, 97, đầu 9 (90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99), 97, 72, 99, 25, 52, cặp 79 (gồm 79, 97, 47, 74, 29, 92, 24, 42), 59, 95, 45, 54, 09, 90, 19, 91, 69, 96, 46, 64, 28, 82, 27, 72, 18, 81, 68, 70, 20 mỗi số 15.000 đồng = 1.005.000 đồng.

Đề tổng 1 (29, 92, 38, 83, 47, 74, 56, 65), tổng 6 (06, 60, 15, 51, 24, 42, 33, 88), 29, 12, 13, 32, 23, 10, 01, 95, 54, 50, 46, 24, 89, 98, 10, 04, 59, 90, cặp 00 (00, 55, 05, 50), 49, 41, 46, 47, 48, 60, 61, 64, 67, 68, 80, 81, 84, 86, 87, 68, 86, 78, 87, 14, 84, 89, 98 mỗi số x 50.000₫ = 3.050.000 đồng.

Cặp 04 (04, 40, 45, 54, 49, 95, 09, 90); cặp 14 (14, 41, 91, 19, 69, 96, 46, 64); cặp 44 (44, 99, 49, 94), cặp 32 (23, 32, 28, 82, 37, 73, 78, 87) mỗi số 65.000₫ = 1.820.000₫.

Đề 99, 69, 96 mỗi số 160.000 đồng = 480.000 đồng.

Đề 57, 75, 67, 76, 87,78,59,22,99,16 mỗi số 40.000đ = 400.000 đồng.

Đề: 88, 25, 22, 05, 50, 80, 38, 83, 14, 41, 99, 79, 97, 03, 92, 90, 10, 30, 15, 51, 47, 74, cặp 99 (44, 99, 49, 94), 76, 26, 15, 68, 16, 18, 81, 12, 21 mỗi số 30.000 đồng bằng 1.050.000 đồng.

Đề đầu 1 (10,11,12,13,14,15,16,17,18,19) = 360.000 đồng.

5

đồng

Đề 10, 19, 91, 90, 10, 90, 15, 68, 64, 81 mỗi số = 100.000 đồng = 1.000.000

Đề đầu 7, đít 7 mỗi số 250.000 đồng = 500.000 đồng

Đề 79, 71 mỗi số 280.000 đồng; đề 86, 68 mỗi số 80.000 đồng; đề 86 là 160.000 đồng; Tổng: 880.000 đồng

Lô 00, 12, 13, 06, 95, 76, 57, 50, 19, 24 mỗi số 12 điểm = 120 điểm x 19.000 đồng = 2.280.000 đồng.

Lô 01, 10 mỗi số 23 điểm, 53 x 45 điểm, 76 x 15 điểm, 90 x 63 điểm, 69 x 140 điểm, 96 x 130 điểm = 439 điểm x 19.000đ = 8.341.000 đồng.

Tổng số tiền mua đề là 9.665.000 đồng, số tiền mua lô 10.621.000 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/3/2024, do thời điểm H bị bắt chưa có kết quả giải đặc biệt xổ số miền B nên số đề 47 Bẩy mua không trúng. Bẩy trúng các số lô 00 x 12 điểm (trúng 03 nháy) = 36 điểm; 06 x 12 điểm; 90 x 63 điểm, tổng số điểm lô trúng là 111 điểm x 70.000 đồng = 7.770.000 đồng.

Sau khi tổng hợp các lô số, số đề của người mua, H nhắn tin cho tài khoản zalo “M2 sai gon” mua các số lô 90 x 20 điểm, 69 x 100 điểm, 96 x 90 điểm, 01 x 60 điểm, tổng 270 điểm = 5.130.000 đồng. Lô C, 63 mỗi số 60 điểm, tổng 120 điểm = 2.280.000 đồng. Khoảng 18h25' cùng ngày, khi H ở nhà tại số A ngõ A phố P, phường C, TP . đang sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim số 0326.189.318, sử dụng tài khoản zalo tên “T” đăng ký bằng số điện thoại 0326.189.xxx để nhận các số lô, số đề thì Phòng C1 Công an tỉnh H phối hợp Công an phường C, thành phố H kiểm tra phát hiện. H đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim số 0326.189.318. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã triệu tập B, H1, Đ đến làm việc và khai nhận hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của H. Huệ giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus số imei 353287070075847 màu vàng, lắp sim số 0934.270.252; Đông giao nộp 01 điện thoại di động Redmi Note 9S màu xanh, lắp sim số 0917.730.010; Bẩy giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy CHP 2349; IMEI 1: 861063057421956; IMEI 2: 861063057421949, lắp sim số 0772395739.

Tại Kết luận giám định số 2616 ngày 13/6/2024 của V, Bộ C2:

- Đối với điện thoại Samsung (M1): Tìm thấy 19 tin nhắn SMS, 56 tin nhắn zalo lưu trữ trong máy.

- Đối với điện thoại Redmi (M2): Chụp ảnh toàn bộ các tin nhắn zalo, facebook messenger lưu trữ trong máy.

- Đối với điện thoại Iphone (M3): Tìm thấy 420 tin nhắn zalo lưu trữ trong máy.

6

- Đối với điện thoại Oppo (M4): Tìm thấy 05 tin nhắn SMS lưu trữ trong máy.

Tại Cáo trạng số 122/CT - VKSTPHD ngày 02/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H1 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác định Vt nhân dân thành phố HD truy tố đối với bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD giữ nguyên nội dung quyết định tr nghị HĐXX:

+ Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo "Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 – 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Phạt tiền bị cáo Phạm Thị H1 từ 30.000.000đồng đến 35.000.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc H cho UBND phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương; bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách giám sát.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B và Nguyễn Văn Đ số tiền 10 đến 12 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

+ Truy thu của bị cáo H 7.770.000đ, của bị cáo B 20.286.000đ, của bị cáo Đ 10.000.000₫, của bị cáo H1 6.400.000₫ sung quỹ Nhà nước.

+ Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A13, số series R58T61HMQ9J, số kiểu máy SM - A135F/DS, số Imei 352469858056048 và 357132378056048 màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus số imei 353287070075847 màu vàng; 01 điện thoại di động Redmi Note 9S màu; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen.

+ Tịch thu, cho tiêu hủy các thẻ sim điện thoại số 0326.189.xxx; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739 lắp trong điện thoại của các bị cáo.

7

+ Đề nghị các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông (V1, M3, vinaphone) thu hồi các số thuê bao: 0326.189.318; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739 theo quy định của pháp luật về viễn thông; trường hợp trong tài khoản thuê bao còn tiền thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền hiện có trong các sim số điện thoại trên.

+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc H (thuộc trường hợp người cao tuổi). Buộc các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản giải tắn điện thoại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do có sự thoả thuận từ trước giữa Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1 về việc đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua điện thoại. Khoảng 16 giờ 38 phút ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9s màu xanh lắp sim số 0917.730.010 đăng nhập tài khoản zalo tên “Nguyenvandong” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số đề trái phép với tổng số tiền là 10.000.000 đồng; khoảng 18 giờ 04 phút ngày 07/3/2024, Hoàng Văn B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen dùng tài khoản zalo tên “7Y” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số các số lô, số đề trái phép với tổng số tiền là 20.286.000đ; khoảng 18 giờ 17 phút ngày 07/3/2024, Phạm Thị H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng lắp sim số 0934.270.252 đăng nhập tài khoản zalo tên “Mật Ngọt” đăng ký bằng số điện thoại 0896.963.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “Thanh Hà” của H để mua các số đề trái phép với tổng số tiền là 6.400.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 07/3/2024, B trúng 111 điểm lô với số tiền là 7.770.000đ. Như vậy tổng số tiền H đánh bạc trái phép với Đ, B và H1 là 44.456.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc với Nguyễn Văn Đ là 10.000.000

8

đồng; số tiền đánh bạc với Hoàng Văn B là 28.056.000 đồng; số tiền đánh bạc với Phạm Thị H1 là 6.400.000 đồng.

Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương truy tố về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các vi phạm pháp luật khác nên việc xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tính chất đồng phạm, vị trí vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ mà cùng xuất phát từ mục đích tư lợi, mua, bán số lô, số đề trái phép và lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày làm căn cứ sát phạt nhau, hưởng lợi bất chính. Bị cáo Nguyễn Ngọc H thực hành tích cực, bán số lô, số đề cho nhiều người nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, đối với bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1 trực tiếp mua số lô, số đề với H nên giữ vai trò thứ yếu. Bị cáo H có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc năm 2021, trong vụ án bị cáo H đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo còn lại.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

[5.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H1, mặc dù mỗi lần đánh bạc số tiền đánh bạc đều trên 5.000.000 đồng (H1 là 6.400.000 đồng; Đ là 10.000.000 đồng; B là 28.056.000 đồng), tuy nhiên, việc mua, bán số lô, số đề giữa các bị cáo chỉ căn cứ vào một lần mở thưởng của xổ số kiến thiết miền bắc (ngày 07/3/2024) nên bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn Ngọc H có bố đẻ là liệt sĩ. Do vậy, các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo

9

Nguyễn Ngọc H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc 14/10/2021, chấp hành xong ngày 19/10/2021, được coi như chưa vi phạm hành chính, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, không bị áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự, mặt khác khi bị phát hiện, các bị cáo đã chủ động giao nộp điện thoại di động, giải trình nội dung và khai báo hành vi phạm tội, cũng như tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, cung cấp thông tin, giúp cho việc điều tra giải quyết vụ án được nhanh chóng, rõ ràng. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc các bị cáo H, B, Đ phải chấp hành hình phạt tù giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo, chính sách khoan hồng của Nhà nước. Đối với bị cáo H1, số tiền đánh bạc thấp nhất, giữ vai trò thứ yếu nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H1 cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ đánh bạc với mục đích sát phạt nhau bằng tiền, cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo Phạm Thị H1, hình phạt chính được áp dụng là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8]. Về vật chứng:

[8.1]. 01 điện thoại Samsung Galaxy A13, số series R58T61HMQ9J, số kiểu máy SM - A135F/DS, số Imei 352469858056048 và 357132378056048 màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus số imei 353287070075847 màu vàng; 01 điện thoại di động Redmi Note 9S màu; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, kiểu máy CHP 2349; IMEI 1: 861063057421956; IMEI 2: 861063057421949. Xét đây là công cụ bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

[8.2]. Đối với 04 chiếc sim thuê bao vật lý mà cơ quan điều tra đã thu giữ cùng 03 chiếc điện thoại di động, gồm 0326.189.xxx; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739 lắp trong điện thoại của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, cho tiêu hủy các thẻ sim theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

10

[8.3]. Đối với 04 tài khoản thuê bao di động, gồm: 0326.189.318; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739. Xét thấy các đối tượng đã sử dụng vi phạm pháp luật nên kiến nghị các doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ viễn thông cho các số thuê bao di động vi phạm pháp luật nêu trên thu hồi các số thuê bao di động và xử lý số tiền còn lại trong tài khoản (nếu có) theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông và quy định của pháp luật hiện hành.

[8.4]. Đối với số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc: Quá trình điều tra xác định, H, B, Đ, H1 chưa thanh toán số tiền mua số lô, số đề, tiền trúng thưởng cho nhau nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, cụ thể: Tịch thu của H 7.770.000đ, của Bẩy 20.286.000đ, của Đ 10.000.000đ, của H1 6.400.000₫

[9]. Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10]. Về các vấn đề khác:

[10.1]. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc H khai nhận còn nhận tin nhắn chuyển bảng và bán số lô, số đề từ Nguyễn Công S sinh năm 1986 ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương là chủ tài khoản zalo "Sỹ Móc"", chủ tài khoản “G G7” và một người đàn ông tên M2 ở S có tài khoản zalo “Minh Sai G”. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập S nhiều lần nhưng hiện S đang vắng mặt tại địa phương. Đối với chủ tài khoản “G G7” và một người đàn ông tên M2 ở S, H không xác định được tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của những người này; tiến hành cho H nhận dạng người có tên là Phạm Văn M2 có địa chỉ ở A đường số E, P. B, TP . tuy nhiên H không xác định được trong ảnh có phải là người tên M2 đã gặp hay không nên chưa có căn cứ xử lý. Cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của Nguyễn Công S.

[10.2]. Đối với tài khoản “E V”, H khai là tài khoản zalo của anh Nguyễn Đức N2 tuy nhiên tiến hành triệu tập anh N2, đối chất với H. Anh N2 xác định không thực hiện hành vi đánh bạc với H, H không xác định được đó có phải là anh N2 hay không, không thu giữ được các vật chứng liên quan nên không có căn cứ xử lý.

[10.3]. Quá trình điều tra, bị cáo H1 xác định có nhận bán số lô, số đề cho người có tài khoản zalo “Mãi Phát”, “Q”, “Phát Tài”, tuy nhiên H1 không xác định được tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của những đối tượng này nên không có căn cứ xử lý. Đồng thời H1 xác định trong thời gian từ 23/10/2023 đến 23/12/2023 có nhiều lần H1 nhắn tin mua số lô, số đề của bị cáo H nhưng bị cáo H không đồng ý bán cũng như có các số lô, số đề H1 đã thu hồi tin nhắn nên không xác định được các số lô, số đề H1 đã mua nên không có căn cứ xử lý đối với H, H1 về hành vi đánh bạc trong khoảng thời gian trên.

Vì các lẽ trên,

11

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

1.1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H;

1.2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321 điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ.

1.3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321 điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H1.

2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn Bẩy Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H1 phạm tội "Đánh bạc".

3. Về hình phạt chính

3.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 27 (hai mươi bẩy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3.2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3.4. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H1 35.000.000 đồng (ba mươi năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3.5. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc H cho UBND phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương, các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3.6. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về hình phạt bổ sung:

- Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước

- Phạt bị cáo Hoàng Văn B 15.000.000 (mười năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

- Phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

5. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

12

- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Ngọc H số tiền 7.770.000đ sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu của Nguyễn Văn Đ số tiên 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu của Phạm Thị H1 số tiền 6.400.000đ sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn B số tiền 20.286.000đ sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A13, số series R58T61HMQ9J, số kiểu máy SM - A135F/DS, số Imei 352469858056048 và 357132378056048 màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus số imei 353287070075847 màu vàng; 01 điện thoại di động Redmi Note 9S màu; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen.

- Tịch thu, cho tiêu hủy các thẻ sim điện thoại số 0326.189.xxx; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739 lắp trong điện thoại của các bị cáo.

- Đề nghị các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông (V1, M3, vinaphone) thu hồi các số thuê bao: 0326.189.318; 0934.270.252; 0917.730.010; 0772395739; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền còn lại (nếu có) trong các tài khoản thuê bao nêu trên.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD).

6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H; buộc các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

8. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra, làm rõ đối với hành vi Nguyễn Ngọc H khai nhận tin nhắn chuyển bảng và bán số lô, số đề từ Nguyễn Công S sinh năm 1986 ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND thành phố HD;
  • - Công an TP. HD
  • - Cơ quan CSĐT - CA TP. HD;
  • - Cơ quan THAHS - CA TP. HD;
  • - Chi cục THADS TP. HD;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Anh Đông

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HD

TỈNH HẢI DƯƠNG

Số: 02/2025/TB-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hải Dương, ngày 25 tháng 02 năm 2025

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương có thiếu sót cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung tại dòng thứ 16 đến 22 từ trên xuống dưới trang 11 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“1. Về điều luật áp dụng:

1.1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H;

1.2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321 điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ.

1.3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321 điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H1.”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“1. Về điều luật áp dụng:

1.1. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ; căn cứ thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H1.

1.3. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND thành phố HD;
  • - Công an TP. HD
  • - Cơ quan CSĐT - CA TP. HD;
  • - Cơ quan THAHS - CA TP. HD;
  • - Chi cục THADS TP. HD;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HSVA, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Anh Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương về đánh bạc (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có sự thoả thuận từ trước giữa Nguyễn Ngọc H, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị H1 về việc đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua điện thoại. Khoảng 16 giờ 38 phút ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9s màu xanh lắp sim số 0917.730.010 đăng nhập tài khoản zalo tên “Nguyenvandong” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số đề trái phép với tổng số tiền là 10.000.000 đồng; khoảng 18 giờ 04 phút ngày 07/3/2024, Hoàng Văn B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen dùng tài khoản zalo tên “7Y” nhắn tin đến tài khoản zalo “T” của H để mua các số các số lô, số đề trái phép với tổng số tiền là 20.286.000đ; khoảng 18 giờ 17 phút ngày 07/3/2024, Phạm Thị H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng lắp sim số 0934.270.252 đăng nhập tài khoản zalo tên “Mật Ngọt” đăng ký bằng số điện thoại 0896963700 nhắn tin đến tài khoản zalo “Thanh Hà” của H để mua các số đề trái phép với tổng số tiền là 6.400.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 07/3/2024, B trúng 111 điểm lô với số tiền là 7.770.000đ. Như vậy tổng số tiền H đánh bạc trái phép với Đ, B và H1 là 44.456.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc với Nguyễn Văn Đ là 10.000.000 đồng; số tiền đánh bạc với Hoàng Văn B là 28.056.000 đồng; số tiền đánh bạc với Phạm Thị H1 là 6.400.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger