Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 22 tháng 01 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Trần và bà Trần Thị Học

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Cao Minh S, sinh ngày 17/10/1993; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Sơn G và bà Nguyễn Thị Hồng D; có vợ là Nguyễn Thị Huỳnh N và có 01 con (sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

  2. Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 21/3/2005; Giới tính: Nam; trú tại: TDP N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hoá: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Q và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    - Nhân thân:

    • + Tại Quyết định số 30 ngày 27/01/2022, Công an huyện V xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”, mức phạt 375.000đ, đã nộp phạt ngày 27/01/2022 (đã xóa tiền sự ngày 27/7/2022).

    • + Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 18/5/2022, TAND huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 3 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS (phạm tội ngày 17/12/2021, khi mới 16 tuổi 8 tháng 26 ngày).

    • + Bản án số 39/2022/HS-ST ngày 28/6/2022, TAND huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 BLHS (phạm tội ngày 04/5/2021 khi mới 16 tuổi 01 tháng 13 ngày).

    Tổng hợp với hình phạt 02 năm 3 tháng tù của Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 nêu trên, buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 3 năm 03 tháng tù; Đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án ngày 27/4/2024, Đ đương nhiên được xóa án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

  3. Lê Văn D1, sinh ngày 25/8/2001; Giới tính: Nam; trú tại: TDP Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị N1; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    - Nhân thân:

    • + Tại Quyết định số 51 ngày 28/9/2018, Công an huyện V, Vĩnh Phúc xử phạt 1.250.000đ về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, đã nộp phạt ngày 01/10/2018 (đã xóa tiền sự ngày 01/4/2019).

    • + Bản án số 47/2019/HS-ST ngày 26/6/2019, TAND huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS (phạm tội ngày 21/01/2019 khi mới 17 tuổi 4 tháng 26 ngày); chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và các quyết định khác của bản án ngày 26/02/2021, D1 đương nhiên được xóa án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS.

    • + Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 28/9/2022, Công an tỉnh V phạt 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 29/9/2022 (đã xóa tiền sự ngày 29/9/2023).

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

  4. Bùi Hoàng Anh D2, sinh ngày 30/11/2001; Giới tính: Nam; trú tại: Xóm M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hoá: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T2 và bà Lê Thị N2; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    - Nhân thân:

    • + Tại Quyết định 09 ngày 03/6/2016, TAND huyện Vĩnh Tường đưa vào Trường G2, thời hạn 06 tháng, chấp hành xong ngày 09/12/2016, đã xóa tiền sự.

    • + Tại Quyết định số 08 ngày 26/8/2020, Công an xã C, V, Vĩnh Phúc xử phạt 750.000đ về hành vi “Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau”, D2 chưa nộp phạt, nhưng không trốn tránh hoặc trì hoãn việc nộp phạt. Hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên ngày 26/8/2021, đã xóa tiền sự ngày 26/8/2022.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

  5. Nguyễn Văn D3, sinh ngày 12/7/1992; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành C (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Đào Thị T3 và có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

  6. Nguyễn Trọng T4, sinh ngày 26/01/2002; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn K, xã V, V, Vĩnh Phúc; văn hoá: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q1 và bà Đặng Thị H1; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Trần Minh T5, sinh năm 1966; chủ sở hữu căn biệt thự F03, sân Golf T, TDP S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; trú tại: Phường V, Quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

  2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; trú tại: TDP Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

  3. Anh Đoàn Trung K, sinh năm 1981; trú tại: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

  4. Chị Trần Thị Hoàng P, sinh năm 2004, HKTT: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; hiện trú tại: G N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

  5. Anh Lương Khánh H2, sinh năm 2004; trú tại: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do biết Bùi Hoàng Anh D2 chuẩn bị đi xuất khẩu lao động ở Australia nên Cao Minh S nảy sinh ý định mua ma tuý để sử dụng trong buổi chia tay Anh D2.

Khoảng 21h ngày 12/5/2024, S gọi điện cho anh Phạm Đình H3 là quản lý căn biệt thự tại sân golf T8, địa chỉ: thị trấn H, T, Vĩnh Phúc, hỏi thuê 01 căn biệt thự có 03 tầng 05 phòng ngủ/01 ngày vào ngày 13/5/2024, anh H3 đồng ý, 02 bên thống nhất giá thuê 01 ngày 01 đêm = 10.000.000đ, 14h ngày 13/5/2024 nhận phòng. Sau đó, S rủ và được Nguyễn Văn D3 đồng ý lên sân T8 chơi.

Khoảng 9h ngày 13/5/2024, Nguyễn Văn D3 gọi điện rủ và được Nguyễn Thị L, Nguyễn Tiến Đ đồng ý lên sân T8 chơi.

Khoảng 12h ngày 13/5/2024, S gọi Telegram rủ và được Đoàn Trung K đồng ý lên sân T8 chơi. Tiếp đó S gọi điện rủ và được Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Trọng T4 đồng ý đến sân Golf T chơi.

Sau đó, S mang theo 01 chiếc loa xách tay, 02 chiếc đèn nháy, 01 ống hút cuốn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ hai đầu được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, để vào cốp xe ô tô của S, rồi đi đón Nguyễn Văn D3.

Trên đường đi, S gọi Messenger facebook cho 01 người chỉ biết tên là C1 ở xã L, V hỏi mua 5.000.000đ tiền ma túy. Tại địa phận xã V, V, Vĩnh Phúc, C1 bán cho S 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy Ketamine + ma túy nước vui + ma tuý kẹo, với giá 5.000.000đ.

Mua được ma túy, S điều khiển xe đến đón Văn Dũng, Trần Thị Hoàng P (là bạn gái của S), chở đến nhà K. Lê Văn D1, T4, Anh D2, Đ, Nguyễn Sông T6 lần lượt đến nhà K. Sau đó mọi người di chuyển lên sân golf T8.

Khoảng 15h ngày 13/5/2024, Bùi Hoàng Anh D2, Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Tiến Đ, Đoàn Trung K, Nguyễn Trọng T4, Trần Thị Hoàng P, Lê Văn D1, Nguyễn Sông T6 đều có mặt tại căn biệt thự sân golf T.

Sau đó S gặp và được chị Hoàng Thị Thanh H4 là quản gia giao nhận chìa khóa căn biệt thự F03 gồm 03 tầng 05 phòng ngủ.

Tại căn biệt thự, K vào phòng ngủ thứ 5 nghỉ ngơi, còn S, T4, Văn D3, Anh D2, Đ, D1, P, T6 đi bơi và chơi xung quanh khu bể bơi trong biệt thự. Khi bơi xong S nói với mọi người: “Đợi ăn xong thì ai thích chơi ma túy thì chơi nếu không đợi ăn thì chơi”.

Khoảng 17h cùng ngày, S xách theo loa, đèn nháy, ống hút để trên bàn kê ở phòng ngủ thứ 5 (phòng K đang ở) của căn biệt thự. Tại đây, S lấy 01 gói ma tuý Ketamine, 01 gói ma tuý nước vui, 01 túi nilon chứa viên nén ma tuý kẹo để lên mặt bàn (trước đó, S đã sử dụng 01 viên ma túy MDMA).

Hành vi Tổ chức sử dụng ma túy Ketaminne:

Nguyễn Văn D3 nói với cả nhóm “không có đĩa xào ke à” thì S nói: “đĩa ở dưới trạn đấy”, sau đó Văn D3 bảo T4: “Đi xuống lấy đĩa đi” thì T4 đi ra khỏi phòng, một lúc sau quay lại mang vào 01 đĩa sứ màu trắng. S nói với Anh D2: “Ra xe ô tô của tao có cái bằng lái xe, mày lấy mang vào để xào ma túy ke”, Anh D2 hiểu ý S nên đi ra khỏi phòng, một lúc sau quay lại đưa cho Văn D3 chiếc bằng lái xe mang tên Cao Minh S.

Sau đó, Văn D3 lấy 01 túi ma túy Ketamine đổ một phần lên đĩa sứ, rồi lấy chiếc bằng lái xe “Xào” ma túy Ketamine. S đón P xuống phòng ngủ thứ 5 cùng mọi người.

Tại đây 08 người gồm: S, P, D1, Đ, T4, Văn D3, Anh D2, K, đều sử dụng ma tuý Ketamine; T6 không sử dụng Ketamine.

Quá trình sử dụng ma túy, Anh D2 gọi điện cho Lương Khánh H2 rủ H2 lên sân golf để sử dụng ma túy, Hòa đồng Ý và nói “Tí tao lên”.

Khoảng 18h cùng ngày thì Nguyễn Thị L đến và sử dụng ma tuý Ketamine cùng mọi người.

S, P, D1, Đ, T4, Văn D3, Anh D2, K, L sử dụng ma túy đến khoảng 19h cùng ngày thì tạm nghỉ rồi cùng T6 đi xuống tầng 1 biệt thự F03 ăn cơm (do S đặt chị H2 trước đó), đến khoảng 19h30 cùng ngày, các đối tượng ăn xong, tiếp tục lên phòng ngủ thứ 5 để sử dụng ma túy.

Khoảng 19h35 cùng ngày, Lương Khánh H2 đến và sử dụng ma tuý Ketamine.

Tổng hợp: có 10 người sử dụng ma túy Ketaminne gồm: Bùi Hoàng Anh D2, Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Tiến Đ, Đoàn Trung K, Nguyễn Trọng T4, Trần Thị Hoàng P, Lê Văn D1, Nguyễn Thị L, Lương Khánh H2.

Hành vi Tổ chức sử dụng ma túy nước vui:

Khoảng 20h ngày 13/5/2024, S cầm gói ma túy nước vui ném lên mặt bàn kê ở dệ tường và nói với D1 “pha nước vui đi cho mọi người chơi” thì D1 bảo Đ đun nóng nước bò húc để pha ma túy nước vui cho mọi người sử dụng.

Đ cho nước bò húc vào ấm siêu tốc đun nóng rồi đưa cho D1 thì D1 đổ nước bò húc vào vỏ chai nhựa rồi xé vỏ gói ma túy nước vui đổ vào chai nhựa rồi cầm chai sóc đều lên rồi đổ ra bát loa nhựa có sẵn trong phòng.

Tiếp đó, Văn D3 nói với Anh D2 “xuống lấy cốc lên đây”, thì Anh D2 đi ra ngoài, sau đó quay lại cầm theo một cốc nhựa đặt cạnh bát loa có ma túy nước vui.

S, D1, Đ, T4, Văn D3, Anh D2, L, H2, K lần lượt uống ma tuý nước vui xong thì S mời P “Có làm tí nước cho vui không”, P đồng ý thì Anh D2 rót ma tuý nước vui ra cốc nhựa rồi đưa cho P sử dụng. P uống ma túy nước vui rồi vui chơi cùng mọi người; T6 không sử dụng ma tuý nước vui.

Tổng số 10 người gồm: Bùi Hoàng Anh D2, Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Tiến Đ, Đoàn Trung K, Nguyễn Trọng T4, Trần Thị Hoàng P, Lê Văn D1, Nguyễn Thị L, Lương Khánh H2 sử dụng ma túy nước vui đến gần 23h cùng ngày thì Đoàn Trung K đi ô tô của S về trước, 09 người còn lại sử dụng ma túy đến hơn 23h ngày 13/5/2024 thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt giữ.

*Về thu giữ đồ vật, tài sản, vật chứng của vụ án:

- Thu giữ trên mặt kệ tủ kê cạnh tường: 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có:

  • + Chất bột màu trắng nghi là ma túy, được thu gom vào mảnh giấy màu trắng, niêm phong ký hiệu M1;

  • + 01 túi nilon màu trắng có mép vuốt màu đỏ, chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu M2;

  • + 01 Giấy phép lái xe (GPLX) số [...] mang tên Cao Minh S có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 ống hút (như nêu trên) có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy, 01 đĩa sứ; được niêm phong ký hiệu M3;

  • + 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ hai đầu được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng bên trong ống hút có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy

- Thu giữ trên mặt kệ tủ kê cạnh tường:

  • + 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng;

  • + 01 túi nilon màu đen, có 13 viên nén màu xám, hình đa giác, một mặt có in hình đầu lâu, niêm phong ký hiệu M4;

  • + 01 loa cầm tay nhãn hiệu Harman Kardon, màu đen, đã qua sử dụng;

  • + 01 đèn Xpace màu trắng đã qua sử dụng;

- Thu giữ trên mặt bậc gỗ lối đi lên giữa hai giường ngủ:

  • + 01 bát nhựa màu xám có đường kính 19 cm, đáy bát có bám dính dung dịch màu vàng nghi là ma túy; 01 cốc nhựa màu xám có đường kính 7,5cm, đáy cốc có bám dính dung dịch màu vàng nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu M5;

  • + 02 mảnh túi nilon màu đỏ, vàng, đen trên bề mặt có in hình con ngựa và ghi chữ Ferrari mặt trong có bám dính chất bột màu vàng nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu M6;

  • + 01 chai nhựa màu trắng có chứa khoảng 70ml dung dịch màu vàng, niêm phong ký hiệu M7;

  • + 01 đèn nháy Laser Show System màu đen, đã qua sử dụng;

  • + 01 bộ ấm đun nước siêu tốc đã qua sử dụng;

- Thu trên mặt sàn phòng 15 vỏ bóng bay cao su màu đen đã qua sử dụng;

- Thu giữ 02 bình khí vỏ kim loại màu xanh ở trong nhà vệ sinh;

- Thu trong ngăn kéo bên phải giữa hai giường ngủ 3.300.000đ;

- Tạm giữ của D1: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, có gắn thẻ sim; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu tím, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của T4: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của Đ: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu vàng, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của Nguyễn Văn D3: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 Promax, vỏ màu đen, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của Bùi Hoàng Anh D2: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của S: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của H2: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, có gắn thẻ sim;

- Tạm giữ của P: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xanh, có gắn thẻ sim; 01 ĐTDĐ Iphone nhãn hiệu 11 Promax, vỏ màu xám, có gắn thẻ sim;

- Thu mẫu nước tiểu của 10 đối tượng gồm: Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Trọng T4, Lê Văn D1, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Thị L, Lương Khánh H2, Trần Thị Hoàng P, Nguyễn Sông T6 để giám định;

- Ngày 23/5/2024, thu giữ mẫu nước tiểu của Đoàn Trung K để giám định

*Kết quả giám định ma túy:

(1) Ngày 18/5/2024, Phòng K3 Công an tỉnh V, kết luận:

  • - Chất bột màu trắng có trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có khối lượng: 0,1773g.

  • - Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có khối lượng: 8,3209g.

  • - Chất bám dính màu trắng trên các mẫu vật: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ và trên GPLX hạng C mang tên Cao Minh S có trong mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine.

  • - 13 viên nén màu xám, hình đa giác trong mẫu ký hiệu M4 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA có tổng khối lượng: 4,9659g

(2) Ngày 22/5/2024, V1 Bộ C2, kết luận:

  • - Mẫu ký hiệu M5: Tìm thấy các chất ma túy Ketamine và N3 trong mẫu chất lỏng màu vàng bám dính trên 01 bát nhựa màu xám.

  • Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine, Ketamine, N3 trong mẫu chất lỏng màu vàng bám dính trên 01 cốc nhựa màu xám gửi giám định.

  • Lượng bám dính rất nhỏ nên không xác định được thể tích mẫu chất lỏng.

  • - Mẫu ký hiệu M6: Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine, Ketamine, N3 trong mẫu chất bột màu vàng bám dính trên 02 mảnh túi nilon màu đỏ, vàng, đen trên bề mặt có in hình con ngựa và ghi chữ Ferrari gửi giám định.

  • Lượng bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng mẫu.

  • - Mẫu ký hiệu M7: Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine, Kl và N3 trong mẫu chất lỏng màu vàng gửi giám định.

Thể tích mẫu: 70,0ml.

Nồng độ Methamphetamine, Ketamine, N3 trong mẫu lần lượt: 0,017mg/ml; 0,955mg/ml; 0,254mg/ml.

Khối lượng Methamphetamine, Ketamine và N3 trong mẫu lần lượt: 1,19mg; 66,85mg; 17,78mg (Bút lục 239, 240, 245, 246).

3. Kết luận giám định nước tiểu đối với:

  • 3.1. Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Tiến Đ, Bùi Hoàng Anh D2: dương tính với K2, MDMA, Methamphetamine.

  • 3.2. Lê Văn D1, Trần Thị Hoàng P: dương tính với K2, MDMA, Methamphetamine, chất chuyển hóa của N3.

  • 3.3. Nguyễn Trọng T4, Lương Khánh H2: dương tính với K2, Methamphetamine.

  • 3.4. Nguyễn Thị L dương tính với K2, M, chất chuyển hóa của N3.

  • 3.5. Đoàn Trung K: âm tính với ma túy.

  • 3.6. Nguyễn Sông T6: âm tính với ma túy.

* Đối với số ma túy đã thu giữ gồm: 13 viên ma túy MDMA = 4,9659g; Ma túy Ketamine = 8,4982g; Ma túy nước vui (Methamphetamine = 1,19mg; Ketamine = 66,85mg; Nimetazepam = 17,78mg).

Tổng tỷ lệ % của các chất ma túy còn lại, đã thu giữ (để xác định khoản 1 hay 2 Điều 249 BLHS = MDMA (99,318%) + Ketamine (42,5244%) + Nimetazepam (0,0089%) + Methamphetamine (0,0023%) = 141,8536%.

Về Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Cao Minh S:

- Đối với số ma túy trên, các bị cáo và đối tượng đều khai nhận là ma túy của một mình Cao Minh S mua đem đến để sử dụng; 09/10 bị cáo và đối tượng sử dụng ma túy đều khai nhận: ngày 13/5/2024 không sử dụng ma túy MDMA; 10/10 bị cáo và đối tượng sử dụng ma túy đều khai nhận: nếu không bị bắt giữ thì cũng không tiếp tục sử dụng ma túy nữa do đã sử dụng nhiều ma túy và đã mệt.

- Cao Minh S khai nhận: S là người điều hành, chỉ đạo việc tổ chức sử dụng ma túy và quản lý toàn bộ số ma túy nêu trên, nên ma túy kẹo (MDMA) thực tế ngày 13/5/2024 S không cho ai sử dụng, S giữ lại để mang về nhà sử dụng sau; Đối với ma túy Ketamine nếu không sử dụng hết S cũng sẽ đem về nhà để sử dụng. Do vậy, hành vi của Cao Minh S đã cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm n Khoản 2 Điều 249 BLHS.

* Đối với đối tượng bán ma túy cho Cao Minh S:

- S khai ngày 13/5/2024 S sử dụng tài khoản Facebook “Sơn Sói” gọi M1 đến tài khoản facebook “Cường G1” của một người tên là C1, ở xã L, V, Vĩnh Phúc để hỏi mua ma túy (S không biết họ, tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể của C1), C1 cao khoảng 1,7m, người gầy.

Cơ quan điều tra đã cùng Cao Minh S kiểm tra ĐTDĐ Sơn, đăng nhập tài khoản facebook “Sơn Sói” của S xác định: ngày 13/5/2024, có 02 cuộc gọi đi từ tài khoản facebook “Sơn Sói” – gọi đến tài khoản Facebook “Cường G1”.

Kiểm tra thông tin tài khoản Facebook “Cường G1” trên ĐTDĐ của S (để tìm số ĐTDĐ dùng để đăng ký tài khoản facebook“Cường G1”) thấy tài khoản facebook “Cường G1” đã xóa bỏ tài khoản khỏi mạng xã hội facebook nên không tìm thấy địa chỉ tài khoản facebook “Cường G1”, nên không xác định được số ĐTDĐ dùng để đăng ký tài khoản facebook “Cường G1”.

Cơ quan điều tra xác minh tại xã L, V, Vĩnh Phúc đối với người tên C1, kết quả: Trên địa bàn xã L không có người nào tên C1 có đặc điểm như S mô tả.

Ngoài lời khai của S, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân, lai lịch của đối tượng tên C1 để triệu tập, đấu tranh làm rõ hành vi bán ma túy nêu trên, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

* Đối với chị Trần Thị Hoàng P, Nguyễn Thị L, Lương Khánh H2, Đoàn Trung K (04 người), có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

* Đối với anh Nguyễn Sông T6, không sử dụng ma túy, không giúp sức Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên không đề cập việc xử lý.

* Đối với anh Phạm Đình H3, khi cho thuê căn biệt thự, không biết các bị can thuê để tổ chức sử dụng ma túy, không liên quan đến vụ án, không đề cập việc xử lý.

* Đối với chị Hoàng Thị Thanh H4, khi giao nhận chìa khóa căn biệt thự, không biết các bị can thuê để tổ chức sử dụng ma túy, không liên quan đến vụ án, không đề cập việc xử lý.

* Đối với bà Trần Minh T5 là chủ của căn biệt thự F03 sân golf T8, không biết các bị cáo thuê để tổ chức sử dụng ma túy, không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, bà T5 đã thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý, Chủ tịch UBND huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

* Đối với nội dung Kết luận giám định nước tiểu của Nguyễn Văn D3 dương tính với 03 loại ma túy là K2, MDMA, Methamphetamine, Văn D3 khai nhận: Ngày 13/5/2024, Văn D3 chỉ sử dụng Ketaminne và ma túy nước vui, còn MDMA Văn D4 sử dụng từ ngày 10/5/2024 tại 01 quán Bar ở huyện V, Vĩnh Phúc đến nay không nhớ tên, địa chỉ của quán, nhân thân, lai lịch của những người sử dụng ma túy cùng.

* Đối với nội dung Kết luận giám định nước tiểu của Nguyễn Tiến Đ dương tính với 03 loại ma túy là K2, MDMA, Methamphetamine, Đ khai nhận: Ngày 13/5/2024, Đ chỉ sử dụng ma túy Ketaminne và ma túy nước vui, còn MDMA Đ sử dụng từ ngày 10/5/2024 tại 01 quán Bar ở huyện V, Vĩnh Phúc đến nay không nhớ tên, địa chỉ của quán, nhân thân, lai lịch của những người sử dụng ma túy cùng.

* Đối với nội dung Kết luận giám định nước tiểu của Bùi Hoàng Anh D2 dương tính với 03 loại ma túy là K2, MDMA, Methamphetamine, Anh D2 khai nhận: Ngày 13/5/2024, Anh D2 chỉ sử dụng ma túy Ketaminne và ma túy nước vui, còn MDMA, Anh D2 sử dụng từ ngày 12/5/2024 tại 01 quán Bar ở huyện V, Vĩnh Phúc đến nay không nhớ tên, địa chỉ của quán, nhân thân, lai lịch của những người sử dụng ma túy cùng.

* Đối với nội dung Kết luận giám định nước tiểu của Lê Văn D1 dương tính với 04 loại ma túy là K2, MDMA, Methamphetamine và chất chuyển hóa của N3, D1 khai nhận: Ngày 13/5/2024, D1 chỉ sử dụng ma túy Ketaminne và ma túy nước vui; còn MDMA D1 sử dụng từ ngày 11/5/2024 tại 01 quán Bar ở huyện V, Vĩnh Phúc đến nay không nhớ tên, địa chỉ của quán, nhân thân, lai lịch của những người sử dụng ma túy cùng.

* Đối với nội dung Kết luận giám định nước tiểu của Trần Thị Hoàng P dương tính với 04 loại ma túy là K2, MDMA, Methamphetamine và chất chuyển hóa của N3, chị P khai nhận: Ngày 13/5/2024, chị P chỉ sử dụng ma túy K2 và ma túy nước vui, còn đối với ma túy MDMA, chị P sử dụng từ ngày 12/5/2024 tại 01 quán Bar ở huyện V, Vĩnh Phúc đến nay không nhớ tên, địa chỉ của quán, nhân thân, lai lịch của những người sử dụng ma túy cùng.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS-TĐ ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Cao Minh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Minh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự; xử phạt Cao Minh S từ 08 năm 03 tháng đến 8 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 tội từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến Đ từ 07 năm 09 tháng đến 07 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn D1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Hoàng Anh D2 từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn D3 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Trọng T4 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam;

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật;

Tại phiên tòa các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 đã thành khẩn khai nhận và rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, khi nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với các bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung: Từ khoảng 17h đến 23h ngày 13/5/2024, tại Căn biệt thự F03 sân golf T8, có địa chỉ ở thị trấn H, T, Vĩnh Phúc, Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 có hành vi tổ chức cho 09 người khác (05 bị cáo + 04 người gồm: Chị Trần Thị Hoàng P, Nguyễn Thị L, Lương Khánh H2, Đoàn Trung K) sử dụng trái phép chất ma túy.

Riêng Cao Minh S còn có hành vi Tàng trữ trái phép: 13 viên ma túy MDMA = 4,9659g; Ma túy Ketamine = 8,4982g; Ma túy nước vui (Ketamine = 66,85mg; Nimetazepam = 17,78mg; Methamphetamine = 1,19mg). Tổng tỷ lệ % của các chất ma túy nêu trên = 141,85%.

[4] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra. Kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh V, V1 Bộ C2; Biên bản sự việc ngày 13/5/2024 cùng vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cụ thể điều luật quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

Hành vi tàng trữ trái phép: 13 viên ma túy MDMA = 4,9659g; Ma túy Ketamine = 8,4982g; Ma túy nước vui (Ketamine = 66,85mg; Nimetazepam = 17,78mg; Methamphetamine = 1,19mg). Tổng tỷ lệ % của các chất ma túy nêu trên = 141,85% của bị cáo Cao Minh S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này”.

[5] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Tiến Đ có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Hủy hoại tài sản” và từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”; bị cáo Lê Văn D1 đã từng có tiền án về tội “Đánh bạc”, từng có tiền sự về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”; bị cáo Bùi Hoàng Anh D2 đã từng có tiền sự về hành vi đánh nhau và từng bị đưa vào cơ sở giáo dưỡng nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích mà còn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ các bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết, phân công vai trò một cách chặt chẽ, mỗi bị cáo có mức độ, hành vi khác nhau: Cao Minh S là người khởi sướng, rủ người, thuê địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy; cung cấp ma túy, điều hành tổ chức sử dụng ma túy; Nguyễn Trọng T4 có hành vi đi lấy 01 đĩa sứ màu trắng để Nguyễn Văn D3 xào ma túy Ketaminne cho mọi người sử dụng; Bùi Hoàng Anh D2 có hành vi rủ Lương Khánh H2 đến sử dụng ma túy, đi lấy 01 GPLX để Nguyễn Văn D3 xào ma túy Ketamine, đi lấy 01 cốc nhựa để đựng ma túy nước vui cho mọi người sử dụng, rót ma tuý nước vui ra cốc nhựa rồi đưa cho P sử dụng; Nguyễn Văn D3 có hành vi xào ma túy Ketaminne cho mọi người sử dụng; điều hành Bùi Hoàng Anh D2 đi lấy cốc nhựa để đựng ma túy nước vui cho mọi người sử dụng; Nguyễn Tiến Đ có hành vi đun nóng nước bò húc rồi đưa cho D1 pha ma túy nước vui cho mọi người sử dụng; Lê Văn D1 có hành vi pha ma túy nước vui với nước bò húc đã đun nóng cho mọi người sử dụng;

[6] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 trước khi phạm tội có nhân thân tốt; sau khi phạm tội, các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Trọng T4 đã tham gia phục vụ trong quân đội; gia đình bị cáo Lê Văn D1 có công với cách mạng (ông ngoại bị cáo đã tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; gia đình bị cáo Nguyễn Văn D3 có công với cách mạng (ông bà nội bị cáo đã tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên các bị cáo Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lương Khánh H2 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim của H2; đã trả lại cho Trần Thị Hoàng P 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Promax, gắn thẻ sim của P do không liên quan đến vụ án sau khi nhận lại tài sản không ai có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết;

Cần tịch thu tiêu hủy: M1 = 0,128g Ketamine; M2 = 7,623g Ketamine; M4 = 4,676g MDMA; M7 = 40ml ma túy nước vui, cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng + 01 bật lửa ga; 01 GPLX hạng C số [...] mang tên Cao Minh S, S từ chối nhận lại; M5: 01 bát nhựa màu xám, 01 cốc nhựa màu xám; M6: 02 mảnh túi nilon màu đỏ, vàng, đen; cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 15 vỏ bóng bay cao su màu đen đã qua sử dụng; 02 bình khí vỏ kim loại màu xanh của bị can S, không còn giá trị sử dụng;

Cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Cao Minh S; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Bùi Hoàng Anh D2, là phương tiện liên lạc phạm tội; tịch thu tiêu hủy đối với 02 thẻ sim.

Cần trả lại cho Lê Văn D1 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim + 3.300.000đ của D1; trả lại cho Nguyễn Trọng T4 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim của T4; trả lại cho Nguyễn Tiến Đ 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 Promax, gắn thẻ sim của Đ; trả lại cho Nguyễn Văn D3 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 Promax, gắn thẻ sim của Nguyễn Văn D3 là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến vụ án nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 loa cầm tay nhãn hiệu Harman Kardon, màu đen, đã qua sử dụng; 01 đèn Xpace màu trắng đã qua sử dụng; 01 đèn nháy Laser Show System màu đen, đã qua sử dụng của S; 01 bộ ấm đun nước siêu tốc đã qua sử dụng do các chủ sở hữu từ chối nhận lại;

Cần tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ống hút bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; tịch thu tiêu hủy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá;

[9] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Các Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự; xử phạt Cao Minh S 8 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 tội là 13 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến Đ 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 23/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn D1 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 23/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Hoàng Anh D2 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn D3 07 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Trọng T4 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

  3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: M1 = 0,128g Ketamine; M2 = 7,623g Ketamine; M4 = 4,676g MDMA; M7 = 40ml ma túy nước vui, cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng + 01 bật lửa ga; 01 GPLX hạng C số [...] mang tên Cao Minh S, S từ chối nhận lại; M5: 01 bát nhựa màu xám, 01 cốc nhựa màu xám; M6: 02 mảnh túi nilon màu đỏ, vàng, đen; cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 15 vỏ bóng bay cao su màu đen đã qua sử dụng; 02 bình khí vỏ kim loại màu xanh của bị can S, không còn giá trị sử dụng;

    Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Cao Minh S; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Bùi Hoàng Anh D2, là phương tiện liên lạc phạm tội; tịch thu tiêu hủy đối với 02 thẻ sim.

    Trả lại cho Lê Văn D1 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim + 3.300.000đ của D1; trả lại cho Nguyễn Trọng T4 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim của T4; trả lại cho Nguyễn Tiến Đ 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 Promax, gắn thẻ sim của Đ; trả lại cho Nguyễn Văn D3 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 Promax, gắn thẻ sim của Nguyễn Văn D3 là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến vụ án nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

    Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 loa cầm tay nhãn hiệu Harman Kardon, màu đen, đã qua sử dụng; 01 đèn Xpace màu trắng đã qua sử dụng; 01 đèn nháy Laser Show System màu đen, đã qua sử dụng của S; 01 bộ ấm đun nước siêu tốc đã qua sử dụng do các chủ sở hữu từ chối nhận lại;

    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ống hút bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; tịch thu tiêu hủy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá;

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Tạ Văn Trần

Trần Thị Học

Trần Quốc Việt

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tam Đảo, ngày 22 tháng 01 năm 2025

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO

Vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 22 tháng 01 năm 2025

Tại phòng nghị án, Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc V

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn T7 và bà Trần Thị H5

Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Cao Minh S, sinh ngày 17/10/1993; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

  2. Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 21/3/2005; Giới tính: Nam; trú tại: TDP N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

  3. Lê Văn D1, sinh ngày 25/8/2001; Giới tính: Nam; trú tại: TDP Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

  4. Bùi Hoàng Anh D2, sinh ngày 30/11/2001; Giới tính: Nam; trú tại: Xóm M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

  5. Nguyễn Văn D3, sinh ngày 12/7/1992; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

  6. Nguyễn Trọng T4, sinh ngày 26/01/2002; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn K, xã V, V, Vĩnh Phúc;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự; xử phạt Cao Minh S 8 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 tội là 13 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến Đ 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 23/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn D1 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 23/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Hoàng Anh D2 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn D3 07 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Trọng T4 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/5/2024;

  3. Về các vấn đề khác:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: M1 = 0,128g Ketamine; M2 = 7,623g Ketamine; M4 = 4,676g MDMA; M7 = 40ml ma túy nước vui, cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng + 01 bật lửa ga; 01 GPLX hạng C số [...] mang tên Cao Minh S, S từ chối nhận lại; M5: 01 bát nhựa màu xám, 01 cốc nhựa màu xám; M6: 02 mảnh túi nilon màu đỏ, vàng, đen; cùng bao gói hoàn lại sau giám định; 15 vỏ bóng bay cao su màu đen đã qua sử dụng; 02 bình khí vỏ kim loại màu xanh của bị can S, không còn giá trị sử dụng;

    Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Cao Minh S; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim của Bùi Hoàng Anh D2, là phương tiện liên lạc phạm tội; tịch thu tiêu hủy đối với 02 thẻ sim.

    Trả lại cho Lê Văn D1 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Promax, gắn thẻ sim + 3.300.000đ của D1; trả lại cho Nguyễn Trọng T4 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 Promax, gắn thẻ sim của T4; trả lại cho Nguyễn Tiến Đ 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 Promax, gắn thẻ sim của Đ; trả lại cho Nguyễn Văn D3 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 Promax, gắn thẻ sim của Nguyễn Văn D3 là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến vụ án nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

    Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 loa cầm tay nhãn hiệu Harman Kardon, màu đen, đã qua sử dụng; 01 đèn Xpace màu trắng đã qua sử dụng; 01 đèn nháy Laser Show System màu đen, đã qua sử dụng của S; 01 bộ ấm đun nước siêu tốc đã qua sử dụng do các chủ sở hữu từ chối nhận lại;

    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ống hút bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; tịch thu tiêu hủy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá;

    (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025)

    Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc các bị cáo Cao Minh S, Nguyễn Tiến Đ, Lê Văn D1, Bùi Hoàng Anh D2, Nguyễn Văn D3, Nguyễn Trọng T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

    Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Tạ Văn Trần Trần Thị Học Trần Quốc V

Trần Quốc Việt

Nơi nhận:

  • - VKSND H.Tam Đảo;
  • - VKSND tỉnh VP
  • - CA H. Tam Đảo;
  • - THA Tam Đảo;
  • - THA HS CA Tam Đảo;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Quốc Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Minh S và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger