|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 19- 11 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Quốc
Ông Phạm Ngọc Thiệp.
- Thư ký phiên toà: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam T, tỉnh Sơn La:
- Bị cáo: Lò Văn M. Có mặt.
- Kiểm sát viên: Bà Trương Thị Khánh L.
- Cán bộ chiến sỹ Phân trại tạm giam T - Sơn La: Ông Bùi Văn Q và ông Lò Văn T.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn M (gọi khác: Không), sinh năm 2001 tại xã T, tỉnh Sơn La;
Nơi cư trú: Bản B, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N và bà Lường Thị C; bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: 02 tiền sự. Ngày 16/12/2020 bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng.
Ngày 03/3/2023 bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
Đến thời gian phạm tội mới chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính (chưa xóa tiền sự).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T3 từ ngày 22/08/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/8/2025 Công an xã T tiếp nhận hồ sơ cùng đối tượng Lò Văn M, sinh năm 2001, trú tại bản Bai, xã T do Công an xã C, tỉnh Sơn La chuyển đến do Lò Văn M khai là đối tượng nghiện chất ma túy đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy. Sau khi tiếp nhận Công an xã T đã phối hợp với Trạm y tế xã T tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng nước tiểu đối với Lò Văn M, kết quả Lò Văn M dương tính với chất ma túy.
Mở rộng điều tra vụ án, xác định được Lò Văn M bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng (Hai mươi tư tháng) tháng kể từ ngày 03/3/2023 theo Quyết định số: 69/QĐ - TA ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La). Sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc trở về địa phương, Lò Văn M là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số: 107/QĐ - UBND ngày 08/3/2025 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã T, tỉnh Sơn La), thời hạn quản lý từ ngày 08/3/2025 đến ngày 08/3/2027.
Ngày 22/8/2025 Cơ quan Điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả: Hiện trường M sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của gia đình ông Lò Văn N, bà Lường Thị C (bố mẹ M) thuộc bản Bai, xã T, tỉnh Sơn La; phía tây sát nhà anh Lò Văn C1, phía bắc trước cửa nhà là đường dân sinh, cách 50m là đường quốc lộ 6B, phía nam là đồi núi, phía đông cách 30m là nhà của anh Trần Văn T1. Ngôi nhà cấp 4, xây dựng kiên cố, có 01 lối vào chính với cửa kính mở ra ngoài dạng cửa hai cánh, bên cạnh là một phần cửa hàng vào kim loại sơn trắng, bên trong nhà lát gạch men màu xanh xám bóng, sát bức tường phía đông có 02 phòng ngủ, phòng thứ 2 là phòng của M, phòng được bố trí ở ngoài cửa bằng nhôm màu đen dạng cửa mở vào trong, kích thước 0,9m x 2,1m, trong phòng có 01 giường sắt kê sát bức tường phía đông, phòng kích thước 2,7x3,3m, giường có kích thước 2x2,2m. Trên giường xác định vị trí M sử dụng ma túy (vị trí 01), vị trí 01 cách tường phía bắc 0,12m, cách cửa chính vào phòng 0,16m, cách 50m về phía bắc là vị trí Lò Văn M vứt bơm kim tiêm vào thùng rác (vị trí 02), vị trí số 02 nằm bên mép đường phía bắc đường Đ - C, cách tường phía bắc 7,4m. Quá trình xác định hiện trường, không phát hiện thu giữ gì.
Kết quả xem xét dấu vết thân thể: Lò Văn M có 01 vết thâm nổi cục kích thước 0,2x0,2 cm tại tĩnh mạch phía trong bắp tay trái của Lò Văn M. M khai là thường xuyên sử dụng xi lanh bơm kim tiêm chất ma túy vào cơ thể.
Kết quả thực nghiệm điều tra như sau: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tiến hành cho Lò Văn M thực hiện 06 động tác lấy lọ nước cất, động tác xé vỏ xi lanh, động tác lấy gói ma túy từ túi áo, động tác đổ ma túy vào trong xi lanh, động tác hút nước cất vào bơm kim tiêm và lắc ma túy để hòa tan vào nước, động tác tiêm chích ma túy vào tĩnh mạch. Thực hiện hai lần kết quả giống nhau và phù hợp với lời khai của Lò Văn M.
Hồi 15 giờ ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Trạm y tế xã T, tỉnh Sơn La tiến hành lấy mẫu giám định chất ma túy trong cơ thể bằng hình thức dùng kéo cắt tóc sát da đầu tại 04 vị trí trên đỉnh đầu phía sau của Lò Văn M lấy 01 gam tóc, trích lấy 0,5 gam tóc vào một túi ZIP, màu trắng ký hiệu M1 để giám định. Còn lại 0,5 gam tóc cho vào 01 túi ZIP màu trắng ký hiệu M2 để lưu, đồng thời ra quyết định trưng cầu số D319 Trưng cầu V giám định chất ma túy trong cơ thể.
Ngày 26/8/2025 V có kết luận giám định độc chất số 661/942/25/KLGĐĐC-PYQG kết luận: “Mẫu tóc: Có tìm thấy M1, C,6-monoacetylmorphin và Methamphetamine. Không tìm thấy các chất ma túy khác".
Quá trình điều tra bị can Lò Văn M khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 20/8/2025 Lò Văn M một mình đi bộ từ nhà tại bản B, xã T, tỉnh Sơn La sang bản D, xã T để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản D, Lò Văn M gặp một người nam giới, không rõ danh tính đang đứng ở ven đường nên M đã hỏi và mua được 01 gói ma túy gồm H và hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu trắng của người đàn ông đó với giá 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Mua được ma túy, M cất giấu gói ma túy ở túi áo khoác bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Về đến nhà M lấy số ma túy vừa mua được pha với nước cất và dùng bơm kim tiêm đã chuẩn bị trước rồi tự tiêm chích vào tĩnh mạch phía trong bắp tay trái của mình, sử dụng ma túy xong, lọ nước cất và bơm kim tiêm M mang ra vứt ở thùng rác đô thị gần nhà rồi về nhà ngủ. Ngày 22/8/2025 M được Công an xã T và Trạm y tế xã T phối hợp xét nghiệm ma túy và kết quả M dương tính với chất ma túy như nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-KV2 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La để xét xử bị cáo Lò Văn M về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan gồm 01 xi lanh bơm kim tiêm, loại 5ml bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 vỏ đựng nước cất bằng thủy tinh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mảnh nilon màu trắng. Sau khi sử dụng ma túy xong, số vật chứng trên Lò Văn M đã vứt vào thùng rác của Chi nhánh M2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã làm biên bản truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt kho khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
-
[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo
khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản làm việc ngày 22/8/2025, biên bản kiểm tra chất ma túy bằng nước tiểu, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/8/2025, biên bản xác định hiện trường ngày 22/8/2025, biên bản truy tìm vật chứng ngày 22/8/2025, biên bản thu mẫu, niêm phong mẫu giám định và lưu mẫu ngày 22/8/2025, Quyết định chưng cầu giám định ngày 22/8/2025, biên bản mở niêm phong, giao nhận đối tượng giám định ngày 23/8/2025, Kết luận giám định độc chất số 661/942/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 26/8/2025, Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 22/QĐ-TA ngày 16/12/2020, Quyết định quản lý sau cai số 1579/QĐ-UBND ngày 16/8/2022, Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 69/QĐ-TA ngày 03/3/2023, Quyết định quản lý sau cai số 107/QĐ-UBND ngày 08/3/2025 các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lò Văn M bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng (Hai mươi tư tháng) tháng kể từ ngày 03/3/2023 theo Quyết định số 69/QĐ - TA ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La). Sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc trở về địa phương, Lò Văn M là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số: 107/QĐ - UBND ngày 08/3/2025 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã T, tỉnh Sơn La), thời hạn quản lý từ ngày 08/3/2025 đến ngày 08/3/2027. Ngày 20/8/2025, Lò Văn M đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tự tiêm, chích vào cơ thể qua tĩnh mạch bên tay trái của mình.
Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện sau 00 giờ ngày 01/7/2025, khi Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 05/9/2025 Văn phòng Q1 đã có văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH hợp nhất Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thành bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, vì vậy cần áp dụng Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, có mức phạt tù từ 02 đến 03 năm.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo Lò Văn M là chính xác, đúng người, đúng tội,
đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.
-
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, việc sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe bản thân bị cáo, suy kiệt nòi giống, ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ sau, là gánh nặng cho mỗi gia đình, xã hội, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.tiềm ẩn những hậu quả khôn lường đến trật tự trị an trong toàn xã hội.
Bị cáo có đủ nhận thức hiểu được tác hại của ma túy. Bị cáo đã 02 lần được áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng hình thức đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, truy nhiên sau khi chấp hành xong trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện, bị cáo đã không quyết tâm từ bỏ ma túy mà trái lại, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
-
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân không tốt đã 02 lần được áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng hình thức đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo có ông nội là Lò Văn T2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, để có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
- [5] Về vật chứng: Đối với vật chứng gồm 01 xi lanh bơm kim tiêm, loại 5ml bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 vỏ đựng nước cất bằng thủy tinh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mảnh nilon màu trắng. Sau khi sử dụng
ma túy xong, số vật chứng trên Lò Văn M đã vứt vào thùng rác của Chi nhánh M2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã làm biên bản truy tìm nhưng không thu giữ được, nên không đặt ra vấn đề xử lý vật chứng.
-
[6] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lò Văn M vào ngày 20/8/2025 tại bản Dân Chủ, xã T, tỉnh Sơn La do M không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó, ngoài lời khai của Lò Văn M ra không có nguồn tài liệu chứng cứ khác, do đó không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) M sử dụng để mua ma túy vào ngày 20/8/2025, qua điều tra xác định được là tiền do Lò Văn M lao động làm thuê mà có.
Đối với ông Lò Văn N; sinh năm 1979 và bà Lường Thị C; sinh năm 1981, cùng trú tại bản Bai, xã T, tỉnh Sơn La, là bố mẹ đẻ của Lò Văn M. Lò Văn M đang sinh sống cùng ông N, bà C, việc Lò Văn M tự ý sử dụng ma túy tại phòng ngủ của mình thì ông N, bà C không biết, không liên quan nên Cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với Lò Văn N, Lường Thị C là đúng quy định của pháp luật.
- [7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
- [9] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn M (Tên gọi khác: Không) phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2025.
- Về vật chứng vụ án: Đối với vật chứng gồm 01 xi lanh bơm kim tiêm, loại 5ml bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 vỏ đựng nước cất bằng thủy tinh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mảnh nilon màu trắng. Sau khi sử dụng ma túy xong, số vật chứng trên Lò Văn M đã vứt vào thùng rác của Chi
nhánh M2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã làm biên bản truy tìm nhưng không thu giữ được.
-
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/11/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội Thẩm Hội Thẩm |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lường Văn M phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy
