|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 19-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
Ông Vũ Văn Quân
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Hiếu Ly– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Kim Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐHST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh T; Sinh ngày: 05/8/1987; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nữ; con của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con: có 01 người, sinh năm 2007; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Trần Thị M, sinh năm: 1974; nơi cư trú: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Lê Thành T2, sinh năm: 1970; nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Phan Thanh T3, sinh năm: 1982; nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm: 1964; nơi cư trú: ấp DL, phường A, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Minh V, sinh năm: 1976; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7 năm 2023, Nguyễn Thị Thanh T đến ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Long An thuê quán của Nguyễn Thị Phương T5 (quán do T5 đang thuê của ông Nguyễn Hoàng T4) để bán nước giải khát, quán không có biển hiệu. Đồng thời, khi khách nam có nhu cầu mua dâm thì T sẽ trực tiếp bán dâm cho khách tại phòng ngủ trong quán. Sau đó, T gặp và rủ Trần Thị M (tên gọi khác: S) đến quán để bán dâm, M đồng ý, khi nào có khách đến mua dâm thì T sẽ gọi điện thoại kêu M đến để bán dâm tại quán của T.
Khoảng 16 giờ ngày 01/11/2024, T đang ở quán nước giải khát thì có Phan Thanh T3 và Lê Thành T2 đi đến quán uống nước và hỏi mua dâm, T đồng ý bán dâm tại phòng ngủ trong quán với giá 400.000đồng/lượt/người. T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei 1: 352737597381475, số Imei 2: 3527375974438147 gắn sim số 0876256816 gọi đến số điện thoại 0378.823.xxx của M gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, màu đen, số IMEI 1: 862101075566326, số Imei 2: 862101076766321, nói “chị ơi, quán có hai người khách nè, chị xuống phụ em”, nghĩa là T kêu M đến quán để bán dâm cho khách nam, M đồng ý. T điều khiển môtô nhãn hiệu SIRENA (kiểu Dream), biển số 62F5-6545, số máy: MG3Y-0384427, số khung: 00SY-0024454 rước Mạnh đến quán của T. T2 trả cho T số tiền mua dâm là 800.000 đồng. T kêu M đi vào phòng số 2 để bán dâm cho T2, T vào phòng số 1 bán dâm cho T3. Tại mỗi phòng, T đã để sẵn một bao cao su nhãn hiệu HA. Lúc 16 giờ 25 cùng ngày, trong lúc T và M đang bán dâm thì lực lượng Công an đến kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang. Qua điều tra, Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSTT, ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo đã gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm”.
Về trách nhiệm hình sự và hình phạt chính: đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei 1: 352737597381475, số Imei 2: 3527375974438147, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 800.000 đồng do chính bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Trần Thị M thực hiện hành vi bán dâm mà có. Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su nhãn hiệu HA, chưa qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Về trách nhiệm hình sự, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đồng thời, xét thấy trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, lấy lời khai làm rõ nội dung vụ án, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, Giấy báo phiên tòa cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự .
[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào ngày 01/11/2024, Nguyễn Thị Thanh T đã sử dụng phòng ngủ tại quán nước giải khát không biển hiệu tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Long An do T đang quản lý để thực hiện hành vi chứa mại dâm 01 lần. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T dùng địa điểm do mình trực tiếp quản lý để chứa mại dâm đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính. Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù, từ 01 năm đến 05 năm.
[4] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống lành mạnh, văn minh cũng như đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; đây cũng là một trong những tệ nạn đang bị xã hội lên án, gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của người phụ nữ, ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Tệ nạn mại dâm cũng là nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần phải xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.
[5.3] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu.
[6] Xét thấy bị cáo lần đầu thực hiện hành vi phạm tội; tuy nhiên, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, thường xuyên thay đổi nơi cư trú nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát.
[9] Về xử lý vật chứng:
[9.1] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei 1: 352737597381475, số Imei 2: 3527375974438147, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9.2] Đối với 02 bao cao su nhãn hiệu HA, chưa qua sử dụng cần tịch tiêu hủy.
[9.3] Đối với số tiền 800.000 đồng mà bị cáo giao nộp, gồm có 400.000 đồng là tiền do chính bị cáo thực hiện hành vi bán dâm, 400.000 đồng là tiền của Trần Thị M bán dâm mà có. Đây là tiền liên quan đến tội phạm mà có nên phải tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[9.4] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu SIRENA (kiểu Dream), biển số 62F5-6545, số máy: MG3Y-0384427, số khung: 00SY-0024454, đã qua sử dụng, kết quả điều tra xác định được T mượn của ông Nguyễn Minh V, sinh ngày 20/12/1976, HKTT: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An làm phương tiện đi lại hàng ngày. Đây là tài sản hợp pháp của ông V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông V là đúng quy định pháp luật.
[9.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, màu đen, số IMEI 1: 862101075566326, số Imei 2: 862101076766321, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Trần Thị M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là M nên không đề cập xử lý.
[10] Đối với các vấn đề có liên quan đến vụ án:
[10.1] Nguyễn Thị Thanh T và Trần Thị M có hành vi bán dâm, vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình: Công an huyện T đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên.
[10.2] Đối với Phan Thanh T3 và Lê Thành T2 có hành vi mua dâm, vi phạm khoản 1 Điều 24 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình: qua xác minh tại Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, không có Phan Thanh T3, sinh ngày 10/11/1982 và Lê Thành T2, sinh ngày 02/6/1970 đăng ký cư trú trên địa bàn. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau đối với T3 và T2.
[10.3] Đối với ông Nguyễn Hoàng T4 là chủ sở hữu K đã cho Nguyễn Thị Phương T5 thuê, sau đó T5 cho bị cáo T thuê lại. Sau khi cho thuê, ông T4 không biết gì về hoạt động chứa mại dâm nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[10.4] Đối với Nguyễn Thị Phương T5, sinh ngày 10/9/1990, đăng ký thường trú tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An, T5 là người đã cho bị cáo T thuê lại quán để mở quán giải khát. Tuy nhiên, qua xác minh T5 không có mặt tại địa phương, không liên lạc được và không biết rõ được địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Qua làm việc Nguyễn Thị Thanh T khai nhận sau khi T5 cho T thuê, T5 không biết gì về hoạt động chứa mại dâm nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm".
2. Về hình phạt: căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (từ ngày 01/11/2024).
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei 1: 352737597381475, số Imei 2: 3527375974438147, đã qua sử dụng và số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng)
- Tịch thu tiêu huỷ 02 (hai) bao cao su nhãn hiệu HA, chưa qua sử dụng.
Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKSTT ngày 18 tháng 12 năm 2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 12 năm 2024.
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về chứa mại dâm
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh T phạm tội "Chứa mại dâm"
