Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Mai

Ông Vũ Đình Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hà và bà Phạm Thị Hà Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đào Doãn G

- sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Doãn D (đã chết) và bà Lê Thị N; Vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1990 (đã ly thân) và 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23-29/7/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T3. Hiện đưa về Nhà tạm giữ Công an thành phố S để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. (Có mặt).

Bị hại:

Anh Lê Trọng B – sinh năm 1984; (Có mặt)

Địa chỉ:

Phòng B, tầng A Chung cư R, đường N, phố A, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Viết L - sinh năm 1983; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: 1. Anh Lê Viết T - sinh năm 1975; (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

2. Chị Trịnh Thị T1 – sinh năm 1987; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tiểu khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Lê Bá H – sinh năm 1996; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, thị trấn T, huyện Q, Thanh Hóa.

4. Chị Nguyễn Thị Q - sinh năm 1985; (Có mặt)

Địa chỉ: 2 D, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

5. Chị Hoàng Thị G1 – sinh năm 1979; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

6. Chị Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1986; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Chung cư R, phường L, thành phố T.

7. Anh Nguyễn Huy H2 – sinh năm 1975; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/10/2023, anh Nguyễn Huy H2 sinh năm 1975 ở thôn V, xã Q, huyện Q đến Công an huyện Q trình báo sự việc: Khoảng 16 giờ 00 ngày 05/10/2023, anh H2 có điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, màu trắng, biển kiểm soát (BKS): 36A- 691.35 (xe mượn của anh Lê Viết L sinh năm 1983 ở tổ dân phố (TDP) H, phường Q, thành phố S) đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q, huyện Q để làm việc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh H2 ra lấy xe để về thì không thấy chiếc xe trên.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã xác minh và xác định vụ việc trên không thuộc thẩm quyền giải quyết, nên đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố S để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra đã xác định như sau: Do có mối quan hệ quen biết với Trịnh Thị T1, sinh năm 1987 ở tiểu khu H, thị trấn T, huyện T và để giúp T1 trả nợ nên ngày 11/09/2023, Đào Doãn G đã vay của anh Lê Viết T sinh năm 1975 ở TDP H, phường Q, thành phố S số tiền 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng), đồng thời để lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Sorento, màu trắng, BKS: 29A-862.16 của G làm tin. Đến chiều cùng ngày, Trịnh Thị T1 đã thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 210.000.000 đồng cho Đào Doãn G, sau đó G trả cho anh T 50.000.000 đồng và còn nợ lại 160.000.000 đồng. Từ ngày 11/09/2023 đến khoảng ngày 17/09/2023, do không có

tiền trả nợ nên G đã đem lần lượt các tài sản gồm 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia màu trắng, loại xe 05 chỗ (không xác định được BKS), 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai màu trắng (không xác định được BKS) và 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia K3 màu trắng, BKS: 36A-910.87 đến nhà anh T để lại làm tin dưới hình thức xe sau thay thế để lấy xe đã đặt lại trước đó.

Đến sáng ngày 27/9/2023, sau khi định vị thấy xe ôtô nhãn hiệu Kia K3, BKS: 36A-910.87 đang ở nhà anh T nên chủ xe là anh Lê Bá H sinh năm 1996 ở thôn D, thị trấn T, huyện Q đã gọi điện cho anh T nói chiếc xe trên là xe của anh H và là xe thuê chứ không phải xe của G. Nghe xong anh T gọi điện cho G và yêu cầu giải quyết dứt điểm thì G hứa hẹn trong ngày sẽ xuống giải quyết. Sau đó, H xuống nhà anh T lấy chiếc xe ôtô Kia K3 về. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, G đến gặp anh Lê Trọng B sinh năm 1984 ở Chung cư R, phường L, thành phố T thuê 01 xe ô tô Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35, thời hạn thuê là 02 ngày kể từ ngày 27/9/2023, giá thuê xe là 700.000 đồng/ngày, G đưa cho anh B 10.000.000 đồng tiền đặt cọc thuê xe.

Sau khi thuê được xe, Đào Doãn G gọi điện rủ Trịnh Thị T1 đi cùng xuống nhà anh Lê Viết T thì T1 đồng ý. Do đợi không thấy G xuống nên anh T gọi điện và G hẹn sẽ đem chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 của vợ xuống đặt lại thay thế nhưng anh T không đồng ý. Anh T nói với G: "Chú đem xe đi đâu giải quyết rồi mang tiền về trả cho anh" và tắt máy. Một lúc sau, G gọi điện lại cho anh T nói: "Anh xem có chỗ nào mua xe thì giới thiệu em bán lấy tiền trả anh", nghe xong anh T tin tưởng và nghĩ là xe của gia đình G nên đồng ý. Sau đó, T giới thiệu bán chiếc xe trên cho em trai là Lê Viết L sinh năm 1983 ở cùng khu phố thì L đồng ý mua. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, G và T1 điều khiển chiếc xe ô tô Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35 xuống nhà T, đến nơi G vào nhà trực tiếp giao dịch bán xe ô tô Mazda 2 với anh T và L còn T1 đứng bên ngoài, không tham gia vào việc mua bán xe.

Quá trình mua bán, do L không thông thạo, am hiểu về xe nên T đứng ra giao dịch với G giúp L, T hỏi G giấy tờ đăng ký xe thì G nói là xe của nhà, đăng ký vợ đang cầm, T kiểm tra xe và thống nhất mua xe với giá 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Vì chưa nhận được giấy tờ xe, nên L không giao đủ tiền mà hỏi G: "Bây giờ chú cần nhiều không?", G trả lời: "Em chỉ cần đủ tiền để trả cho anh T". Sau đó G và L thống nhất, G bán chiếc xe ô tô Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35 cho L với giá 300.000.000 đồng, L trả trước 160.000.000 đồng và còn 140.000.000 đồng, giao hẹn với L 10 ngày sau mang giấy tờ xe đến bàn giao và làm hợp đồng công chứng bán xe xong sẽ trả hết. Để đảm bảo tính pháp lý sau này cho em trai nên anh T yêu cầu G viết giấy bán xe, T đọc nội dung giấy bán xe để G viết, sau khi viết xong L chuyển khoản cho G số tiền 160.000.000 đồng, sau đó G chuyển khoản trả nợ cho anh T 160.000.000 đồng rồi đi về.

Ngày 03/10/2023, Lê Viết L cho anh Nguyễn Huy H2 mượn xe ô tô Mazda 2 để làm phương tiện đi lại. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/10/2023, anh H2 điều khiển xe ô tô trên đến UBND xã Q, huyện Q để làm việc. Cùng thời điểm này, do thời hạn thuê xe đã hết, anh Lê Trọng B nhiều lần gọi điện yêu cầu G đem xe đến trả nhưng G không trả nên anh B đã sử dụng định vị gắn trên xe để đi tìm xe và phát

hiện xe ô tô trên đang để ở sân trụ sở UBND xã Q, huyện Q và anh B đã dùng chìa khóa phụ lấy xe đem về nhà.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thành phố S kết luận: Giá trị của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35 tại thời điểm ngày 27/9/2023 là: 407.200.000 đồng (Bốn trăm linh bảy triệu, hai trăm nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 2356/KL-KTHS ngày 19/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với 01 giấy bán xe do Lê Viết L giao nộp: Chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết "Đào Doãn G" dưới mục "người bán XE" ở mẫu cần giám định (kí hiệu A) so với chữ viết, chữ ký đứng tên "Đào Doãn G" ở mẫu so sánh (kí hiệu M1, M2, M3) là cùng một người viết và ký ra.

Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, màu trắng, BKS: 36A- 691.35 đã được bàn giao cho chủ sở hữu là anh Lê Trọng B; anh B đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết L là người mua chiếc xe ô tô Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35 và đưa trước cho G số tiền 160.000.000 đồng, anh L yêu cầu G trả lại số tiền trên. Hiện tại Đào Doãn G chưa khắc phục, hoàn trả cho anh L.

Cáo trạng số 05/CTr-VKS-HS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố Đào Doãn G về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng: Khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 BLHS.

Đề nghị tuyên bố: Đào Doãn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị xử phạt Đào Doãn G từ 07 năm đến 08 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 năm 06 tháng tù tại Bản án số 141a ngày 23-29/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 19 năm 06 tháng đến 20 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Lê Viết L số tiền 160.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS công nhận việc Cơ quan CSĐT công an thành phố S đã bàn giao 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 BKS: 36A-691.35 cho anh Lê Trọng B.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị hại đã nhận lại chiếc xe Mazda 2 nên không có ý kiến gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về phần thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có bản khai đầy đủ, rõ ràng nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 BLTTHS Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp và đúng quy định.

[2]. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, trên cơ sở lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án thì nhận thấy: Ngày 27/9/2023 bị cáo thuê 01 xe ô tô Mazda 2, màu trắng, BKS: 36A-691.35 của anh Lê Trọng B ở chung cư R, phường L, thành phố T với mục đích đem xuống nhà anh Lê Viết T đặt lại thay thế cho chiếc xe ô tô Kia K3 BKS: 36A-910.87 đã cầm cố trước đó để đảm bảo cho khoản nợ 160.000.000đ nhưng anh T không đồng ý. Vì vậy, Đào Doãn G đã bán chiếc xe trên cho anh Lê Viết L với giá 300.000.000 đồng để lấy tiền trả nợ cho anh T, G nhận trước của anh L 160.000.000 đồng rồi chuyển khoản trả nợ luôn cho anh T. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thành phố S kết luận: Giá trị của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 màu trắng, BKS: 36A-691.35 tại thời điểm ngày 27/9/2023 là: 407.200.000 đồng (Bốn trăm linh bảy triệu, hai trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 BLHS như cáo trạng của VKS nhân dân thành phố S truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đây là vụ án rất nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rõ những việc mình làm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân là lấy tiền trả nợ nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[4]. Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo và bố, mẹ bị cáo có thời gian tham gia quân đội, bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến vẻ vang, bác ruột bị cáo là liệt sỹ và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, đang phải chấp hành án phạt tù tại trại giam T3 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và

“Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan tổ chức”. Vì vậy, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị lớn. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh và áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và cũng nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết L đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền 160.000.000 đồng. Đây là tiền bị cáo đã nhận khi bán chiếc xe Mazda 2 cho anh L. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả số tiền trên cho anh L là phù hợp với quy định tại Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 của BLDS nên cần ghi nhận.

[6]. Về vật chứng: Công nhận việc Cơ quan CSĐT công an thành phố S đã bàn giao 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 BKS: 36A-691.35 cho anh Lê Trọng B. Anh B không có yêu cầu gì khác và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên miễn xét.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, hiện đang chấp hành án phạt tù nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 47; Điều 48 BLHS. Điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 BLDS. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Đào Doãn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Đào Doãn G 08 (T2) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 năm 06 tháng tại Bản án số 141a/2024/HSST ngày 23-29/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 20 (hai mươi) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) cho anh Lê Viết L.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Về vật chứng:

Công nhận việc Cơ quan CSĐT công an thành phố S đã bàn giao 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 BKS: 36A-691.35 cho anh Lê Trọng B.

Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Bị hại;
  • - Công an TP. Sầm Sơn;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Thi hành án HS, DS TP. Sầm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Nhung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Mai

Vũ Đình Khanh

Nguyễn Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger