|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 14-03-2025
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn, Ông Vương Tiến Chuẩn.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị S sinh năm 1992; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ở: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện L); Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn S1 (đã chết); Mẹ đẻ: Phùng Thị S2, sinh năm 1961; Chồng: Sằm Văn V sinh năm 1992; Con: 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Anh, chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị can là con thứ hai.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên toà).
* Bị hại: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Thị S sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Khoảng tháng 10/2024, S đến làm thuê cho gia đình ông Ngô Văn H, sinh năm 1968; trú tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố B, thị trấn B, huyện L). Công việc hàng ngày của S là chăm sóc vườn cây ăn quả, ăn nghỉ tại ngôi lán của gia đình ông H tại thôn K, xã B, huyện L (nay là tổ dân phố K, Thị trấn B).
Buổi trưa ngày 19/12/2024, ông H điều khiển xe mô tô biển số 98E1-887.53 đi từ nhà đi vào vườn trồng cam tại tổ dân phố K, thị trấn B. Khoảng 13 giờ cùng ngày, ông H đến nơi và dựng xe tại sân lán, chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa, trong cốp xe có để số tiền là 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng) từ trước rồi đi ra thăm vườn. Phát hiện xe mô tô của ông H vẫn cắm chìa khóa điện nên S đã mở cốp xe để tìm tài sản trộm cắp thì phát hiện 01 tập tiền loại mệnh giá 500.000 đồng được buộc bằng dây chun nịt, S rút một phần tiền trong tập đó đút vào túi quần bên trái rồi đi ra vườn làm. Khoảng 15 phút sau, ông H quay lại xe mô tô phát hiện số tiền để trong cốp xe bị mất một phần nên làm đơn trình báo gửi Công an thị trấn B.
Cùng ngày, Công an thị trấn B mời Hoàng Thị S đến trụ sở để làm việc, tại đây S đã xin đầu thú và giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp của ông H gồm 27 (hai bảy) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng cộng là 13.500.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Ngày 14/02/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả cho ông Ngô Văn H số tiền 13.500.000 đồng; ông H đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại số tiền 13.500.000đồng chô ông Ngô Văn H. Ông H đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Thị S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự vắng mặt, bị cáo không ý kiến gì về lời khai các đương sự vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
[3] Tại phiên toà Hoàng Thị S đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, biên bản xác định hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Thị S, sinh năm 1992; trú tại thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn là người làm thuê cho ông Ngô Văn H sinh năm 1968 ở tổ dân phố B, thị trấn B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 13 giờ ngày 19/12/2024, lợi dụng ông H đi xe mô tô đến vườn trồng cam ở thôn K, xã B, huyện L (nay là tổ dân phố K, thị trấn B, huyện L) nhưng không rút chìa khóa điện, S đã mở cốp xe của ông H trộm cắp số tiền 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Khi được Công an xã B (nay là thị trấn B) mời lên làm việc, Hoàng Thị S đã xin đầu thú và giao nộp toàn bộ số tiền trên. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ với lỗi cố ý; Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[4] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố thành khẩn bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đến Công an đầu thú; đã giao nộp tài sản trộm cắp, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, sinh sống trong vùng kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mười, giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian thử thách là có căn cứ nên Hội đồng xem xét chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại ông Ngô Văn H đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 14/02/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại số tiền 13.500.000đồng chô ông Ngô Văn H. Ông H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế xã hội khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Hoàng Thị S.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị S 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng về tội “trộm cắp tài sản”, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/03/2025. Trả tự do cho bị cáo Hoàng Thị S ngay tại phiên toà.
Giao bị cáo Hoàng Thị S cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo Hoàng Thị S.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
- - Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Thị S.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị S - trộm cắp tài sản
