Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 07/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Đạt, ông Huỳnh Công Trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ân – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 26/12/1992 tại tỉnh Phú Yên.

Nơi cư trú: 4 L, khu phố N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nơi ở: khu phố L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Thợ sơn. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Â, sinh năm 1966. Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 10/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Kim P, sinh năm 1986; Nơi cư trú: 7 L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Võ Hoàng K – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P cử. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  2. Võ Thị P1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  3. Trần Đình T1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị Ngọc T là vợ chồng đã nộp đơn xin ly hôn chờ Tòa án giải quyết, chị T về ở tại phòng cho thuê trọ của cha mẹ chị T tại tổ C, khu phố B, phường G, thành phố T. Khoảng 19 giờ ngày 19/02/2024, anh Nguyễn Kim P đến phòng chị T chơi, H đến thấy, nói anh P và chị T quen nhau là quan hệ bất chính và hai bên cãi nhau qua lại. H dùng kéo dài khoảng 10cm, có 02 mũi nhọn mang theo đâm anh P liên tiếp 10 nhát hướng từ trên xuống trúng vào môi trên bên phải, bàn tay trái, vai trái, cánh tay trái, cẳng tay trái, đỉnh chẩm phải, mạn sườn trái, ngực trái, ngực phải, chị T can ngăn nhưng H vẫn tiếp tục đâm anh P trúng vùng cổ phía sau. Anh P bỏ chạy, H đuổi theo, chị T ôm H can ngăn thì bị H đẩy ra làm mũi kéo trúng vùng cổ phía sau gây thương tích nhẹ nên H mới dừng lại rồi điều khiển xe bỏ đi và vứt kéo mất. Anh P đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P cấp cứu điều trị.

Các Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 84, 85 ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Anh Nguyễn Kim P bị thương tích tỷ lệ 18%. Vật tác động: vật có cạnh sắc. Chị Nguyễn Thị Ngọc T bị thương tích tỷ lệ là 04%. Vật tác động: vật có cạnh.

Ngày 18/7/2024, chị Nguyễn Thị Ngọc T có đơn không yêu cầu khởi tố.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSPY-P1 ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Giết người”. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 07 đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10/6/2024).

Về trách nhiện dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 41.143.762₫ về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Bị cáo đã bồi thường trước số tiền 1.000.000đ nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 40.143.762đ.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX xem xét ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 41.143.762đ về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Bị cáo đã bồi thường trước số tiền 1.000.000đ nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 40.143.762đ.

Bị cáo không tranh luận gì, nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản thực nghiệm điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 19/02/2024, tại khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên, do thấy anh Nguyễn Kim P có quan hệ tình cảm với vợ mình là chị Nguyễn Thị Ngọc T, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã dùng 01 cây kéo bấm chỉ có 02 mũi nhọn bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) đâm anh P liên tiếp 11 nhát trúng môi trên bên phải, bàn tay trái, vai trái, cánh tay trái, cẳng tay trái, đỉnh chẩm phải, mạn sườn trái, ngực trái, ngực phải, cổ phía sau (là những vùng trọng yếu trên cơ thể người). Do chị T can ngăn bị cáo H nên anh P được cấp cứu điều trị kịp thời, không bị nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích tỷ lệ 18%. Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKSPY-P1 ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Giết người” theo quy định Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc H nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khoẻ người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an an toàn xã hội tại địa phương, nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “chưa đạt”, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng quy định tại Khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Kim P yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc H bồi thường các khoản như sau: Chi phí điều trị có hoá đơn chứng từ là 893.762đ, tiền thuốc điều trị vết thương trong 30 ngày là 250.000đ, chi phí bồi dưỡng sức khoẻ là 1.000.000đ, ngày công lao động bị mất là 30 ngày x 300.000đ/ngày = 9.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần: 30.000.000đ. Tổng cộng là 41.143.762đ, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 1.000.000₫ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 40.143.762đ. Bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại là phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc H bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo H còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Giết người”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10/6/2024).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị hại Nguyễn Kim P. Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Kim P số tiền 41.143.762đ về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 1.000.000₫ nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 40.143.762đ (Bốn mươi triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm sáu mươi hai đồng).

    Bị hại Nguyễn Kim P được nhận số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) do bị cáo Nguyễn Ngọc H bồi thường (bà Lê Thị Â nộp thay) tại biên lai thu tiền số 0000907 ngày 10/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người có nghĩa vụ chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.007.000₫ (Hai triệu, không trăm lẻ bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN THẨM PHÁN

Huỳnh Công Trí

Trần Quang Đạt

Nguyễn Việt Hùng

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng HSNV Công tỉnh Phú Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên;
  • (02 bản – đề nghị giao Bc Hưng 01 bản);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 07 2025 - BẢN ÁN HSST CT HÙNG - Nguyễn Ngọc H k2 đ 123
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger