|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 07 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng, ông Nguyễn Văn Nguyên.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
- Nguyễn Minh H, sinh ngày 16/9/1969; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, ấp H, xã H, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn Văn T( đã chết) và bà Nguyễn Thị C( đã chết); Vợ Nguyễn Thị X; Con có 01 người; tiền án, tiền sự: không (có mặt);
-
- Bị hại: Ông Trương Văn C1, sinh năm 1990; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt);
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
+ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; Nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Hiện đang bị giam tại trại Giam C2. Địa chỉ ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ( có đơn yêu cầu vắng mặt);
-
+ Ông Phạm Thanh P, sinh ngày 01/01/1975; Nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có đơn yêu cầu vắng mặt);
-
+ Ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/01/1987; Nơi thường trú: Ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt);
-
+ Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
-
-
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị X (có mặt), ông Lê Văn H1, ông Nguyễn Thanh S, ông Châu Thành H2, ông Phạm Văn B (tất cả đều văng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 24/10/2023, Nguyễn Minh H bàn bạc với Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn N, Phạm Thanh P giả danh chủ đất cần bán lúa, để lừa đảo, chiếm đoạt tiền đặt cọc, chia nhau tiêu xài. H hẹn gặp Trương Văn C1 tại quán nước thuộc khu vực tổ A, khóm L, phường L, thị xã T. Tại đây, Q đứng bên ngoài, H vào quán gặp, C1, giới thiệu P, N (giả danh tên Nguyễn Văn T1) là chủ đất lúa ở khu vực sườn 2 thuộc phường L, thị xã T, bán số lượng 150 công (150.000m²), mỗi công 500.000 đồng, tổng số tiền 75.000.000 đồng. Tưởng thật, C1 đồng ý ký hợp đồng mua bán, đưa tiền cọc trước 20.000.000 đồng cho H, P và 02 lần chuyển khoản cho Q (qua số tài khoản Phạm Hữu Đ) với số tiền 55.000.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt, Q chia cho P 7.000.000 đồng, N 5.000.000 đồng, H 49.000.000 đồng, số tiền còn lại Q sử dụng riêng. Khi đến thời gian thu hoạch, C1 không liên lạc được H, trình báo Công an.
Trong thời gian điều tra, Cơ quan điều tra – Công an thị xã T đã ra quyết định tách vụ án, đề nghị truy tố đối với Nguyễn Văn Q, Phạm Thanh P, Nguyễn Văn N. Ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đã xét xử đối với Nguyễn Văn Q, Phạm Thanh P, Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Riêng, H bỏ trốn, đến ngày 02/10/ 2024 H bị bắt, tạm giam để điều tra.
* Căn cứ kết luận giám định số 850, 949 ngày 09/7/2024, 24/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:
-
- Chữ ký và chữ viết họ tên Nguyễn Văn T1 (Náo) dưới mục “Bên B” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết họ tên Nguyễn Văn T1 do Nguyễn Văn N ký và viết trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) do cùng một người ký và viết ra.
-
- Chữ ký và chữ viết họ tên Phạm Thanh P dưới mục “Bên B” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết Phạm Thanh P trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) do cùng một người ký và viết ra.
Cáo trạng số 84/CT-VKSTC- HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Văn H3 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt và vắng mặt đều khai phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại C1 đã nhận tiền bồi thường 50.000.000 đồng, tại phiên bị hại co rằng phần dân sự đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS- ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân châu và bản án số 07/2025/HS- ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang nên không yêu cầu giải quyết lại.
Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết truy tố như cáo trạng, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điểu 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hiệp M án từ 02(hai) năm 06(sáu) tháng đến 03(ba) năm tù
Về hình phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Hiệp T2 thành phần lao động nghèo, nghề nghiệp không ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại C1 đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng, Tuy nhiên đã được xem xét giải quyết xong tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS- ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân châu và bản án số 07/2025/HS- ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét phần trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hình vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chưng, tại phiên tòa: Hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai cần thiết cho việc giải quyết xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ
Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 24/10/2023 Nguyễn Minh H rủ Q, P, Nguyễn Văn N, cùng tham gia đã lừa bán lúa non cho Trương Văn C1 với số lượng 150 công (150.000m²), mỗi công 500.000 đồng, tổng số tiền 75.000.000 đồng. đưa tiền cọc trước 20.000.000 đồng cho H, P và 02 lần chuyển khoản cho Q (qua số tài khoản Phạm Hữu Đ) với số tiền 55.000.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt, Q chia cho P 7.000.000 đồng, N 5.000.000 đồng, Η 49.000.000 đồng, số tiền còn lại Q sử dụng riêng. Khi đến thời gian thu hoạch, C1 không liên lạc được H.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H3 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự ; có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù.
Hành vi của các bị cáo H3 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hửu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm, phù hợp tính chất và mức độ phạm tội mà các bị cáo gây ra, qua đó cũng nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm chung trong giai đoạn hiện nay.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo H3 bản thân có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài mà không bỏ công sức lao động đều chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo H3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Nên bị cáo được xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt
[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về xâm phạm quyền sở hữu tài sản có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt tương xứng phù hợp với tính chất và mức độ hậu quả mà các bị cáo đã gây ra,
Bị cáo H3 cùng với P, N thực hiện hành vi phạm tội là có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, đối với hành vi của P, N đã được xét xử bằng bản án bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS- ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân châu và bản án số 07/2025/HS- ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, trong vụ án này vai trò của bị cáo H3 chủ mưu cầm đầu, khởi xướng lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại số tiền 75.000.000 đồng và hưởng lợi số tiền 49.000.000 đồng nhiều hơn so với P, Náo Q1 nên mức hình phạt áp dụng cho bị cáo cũng nghiêm khắc hơn. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H3 thuộc thành phần lao động nghèo, nghề nghiệp không ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. .
[6] Về trách nhiệm dân sự:: Tại phiên tòa, bị hại C1 cho rằng về phần trách nhiệm dân sự đã được xem xét giải quyết xong tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS- ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân châu và bản án số 07/2025/HS- ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang nên không yêu cầu xem xét lại. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điểu 38; Điều 58 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/19/2024.
Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Hòa Bình |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 32 ngày 07/02/2025
