|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 06/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Hoa và bà Trần Thị Minh Phúc.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phú – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vì – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025 đối với các bị cáo:
- Đoàn Hậu M (tên gọi khác: Tèo); sinh ngày 10/08/2001, tại tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký NKTT, chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Kim N và bà Võ Thị Bình N1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/8/2020, bị Công an xã H, huyện H, tỉnh Quảng trị xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 cho đến nay - Có mặt.
- Trần Ngọc H (tên gọi khác: Xưa); sinh ngày 18/09/2000, tại tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký NKTT, chỗ ở: Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc P và bà Nguyễn Thị M1; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 cho đến nay - Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Trần Tão H1, sinh năm 2001; địa chỉ: Khu phố G, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2001; địa chỉ: Khu phố G, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Chị Trần Ngọc H3, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Anh Lê Quốc B, sinh năm 2001; địa chỉ: Khu phố C, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Anh Nguyễn H4, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố A, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, ngày 31/7/2024, bị cáo Đoàn Hậu M đến tầng 2 quán B1 thuộc Khu phố C, Phường A, thị xã Q ngồi ăn uống cùng bị cáo Trần Ngọc H, anh Trần Tão H1, chị Nguyễn Thị Thu H2, chị Trần Ngọc H3, anh Lê Quốc B. Cùng thời điểm này, anh Nguyễn H4, anh Nguyễn Trường G cũng đến quán B2 để ăn uống. Khoảng 00 gờ 15 phút ngày 01/8/2024, anh Nguyễn H4 thấy bị cáo Đoàn Hậu M là người quen nên cầm ly bia sang bàn của bị cáo M để giao lưu. Một lúc sau, anh Nguyễn Trường G cầm ly bia sang và hỏi bị cáo M “Mi ưng cái chi”, bị cáo M trả lời “Có chi mô anh, H4 là bạn em có chi mô anh”. Lúc này, bị cáo Trần Ngọc H đứng dậy nói “Anh, không có chi mô, ngồi nói chuyện cho vui thôi” thì anh Nguyễn Trường G hỏi lại bị cáo M “Mi răng”, bị cáo M trả lời “Răng anh”. Thời điểm này, anh Lê Quốc B đứng dậy cầm ly bia mời mọi người uống nhưng anh Nguyễn Trường G không uống mà tiếp tục có lời qua tiếng lại với bị cáo M rồi dùng tay phải đấm một cái vào phía sau đầu bị cáo M, bị cáo M liền dùng tay phải cầm ly bia thuỷ tinh đánh một cái trúng vào vùng mặt phía bên trái của anh G. Thấy anh G bị đánh, anh H4 dùng tay phải đấm vào mặt bị cáo M. Lúc này, bị cáo Trần Ngọc H ngồi đối diện thấy bị cáo M bị đánh nên đứng dậy cầm ly bia thủy tinh đang uống đánh một cái vào vùng mặt của anh G. Anh H4 thấy anh G bị đánh liền túm tóc và dùng tay đánh vào mặt bị cáo H. Thấy vậy, mọi người đến can ngăn nên hai bên tự giải tán ra về. Anh Nguyễn Trường G bị thương tích được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ sau đó chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q đến ngày 09/8/2024 thì ra viện.
Hậu quả: Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 172/KLTTCT-TTPY ngày 23/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Trường G tại thời điểm giám định là 15%.
- Các tổn thương trên phù hợp với vật có cạnh sắc tác động gây nên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 đĩa DVD-R bên trong chứa 01 tập tin video có tên BIMBIM01082024.mp4; các mảnh vỡ ly thủy tinh trong suốt do chị Nguyễn Thị Thùy D (chủ quán) giao nộp.
Quá trình điều tra xác định đĩa DVD-R chứa tập tin video có tên BIMBIM01082004.mp4 là nguồn chứng cứ của vụ án nên chuyển theo hồ sơ để làm căn cứ xử lý. Đối với các mảnh vỡ ly thủy tinh trong suốt đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị bảo quản chờ xử lý.
Về dân sự: Bị cáo Đoàn Hậu M và bị cáo Trần Ngọc H đã tự nguyện bồi thường đầy đủ số tiền 45.000.000 đồng theo yêu cầu của anh Nguyễn Trường G. Ngoài ra các bên không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số: 04/CT-VKS-TXQT ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Đoàn Hậu M và Trần Ngọc H về tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đoàn Hậu M và Trần Ngọc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Hậu M từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, gấp đôi thời gian thử thách; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, gấp đôi thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng:
- Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 DVD-R chứa tập tin video có tên BIMBIM01082004.mp4;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội còn lại trong vụ án.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đoàn Hậu M và Trần Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án như sau:
Ngày 01/8/2024, bị cáo Đoàn Hậu M và bị cáo Trần Ngọc H đã có hành vi dùng ly thủy tinh đánh vào vùng mặt của anh Nguyễn Trường G gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Hành vi của bị cáo Đoàn Hậu M, bị cáo Trần Ngọc H là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo M và bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo; các bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị theo yêu cầu của bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt (bên cạnh đó, “Người bị hại cũng có lỗi”); bị cáo M có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó, bị cáo M và bị cáo H đều được hưởng các tình tiết giảm theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Vai trò và áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Bị cáo Đoàn Hậu M và bị cáo Trần Ngọc H là đồng phạm gây thương tích đối với anh Nguyễn Trường G, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, tổ chức thực hiện và cả hai bị cáo có vai trò như nhau trong việc gây thương tích cho anh G.
Hành vi của các bị cáo làm thiệt hại đến sức khoẻ của người khác; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả gây ra. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125, huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.
[6] Đối với anh Nguyễn Trường G đã có hành vi dùng tay đánh bị cáo Đoàn Hậu M; anh Nguyễn H4 đã có hành vi dùng tay đánh bị cáo Trần Ngọc H nhưng không gây thương tích. Mặc dù anh Nguyễn Trường G, bị cáo Trần Ngọc H không yêu cầu xử lý nhưng hành vi của anh G và anh H4 đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q chuyển hồ sơ cho Công an P1, thị xã Q để xử lý là có cơ sở.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Hậu M và bị cáo Trần Ngọc H cùng gia đình đã bồi thường chi phí điều trị cho bị hại, anh Nguyễn Trường G không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội còn lại trong vụ án.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đoàn Hậu M (tên gọi khác: T) và bị cáo Trần Ngọc H (tên gọi khác: X) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Đoàn Hậu M 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Hậu M cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Trần Ngọc H cho Ủy ban nhân dân Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục bị cáo.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng UBND trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thứ thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Những mảnh vỡ ly thuỷ tinh có nhiều kích thước khác nhau đựng trong túi nilon trong suốt.
Các vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các Đoàn Hậu M, Trần Ngọc H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Hậu M (tên khác: T) và Trần Ngọc H (tên khác:X) phạm tôi "Cố ý gây thương tích"
