TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 04-03-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Cao Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Đáng
Ông Dương Quốc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số A đường T, phường P, quận T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K; sinh ngày 06 tháng 9 năm 1981, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số CCCD: [...] cấp ngày 11/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú và nơi cư trú hiện nay: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); Nghề nghiệp: Nhân viên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Hồ Thị B, sinh năm 1959; có vợ là Lê Nguyễn Việt Y nhưng đã ly hôn, hiện nay đang sống chung như vợ chồng với bà Lại Thị Ngọc M, sinh năm 1989; con: có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/03/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (nay là Trại tạm giam Công an thành phố H), có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hoài N - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: 5 H, phường V, quận T, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phan Văn P, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, quận T, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã H, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- + Bà Hồ Thị B, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, quận T, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- + Bà Hồ Thị M1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- + Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- + Ông Huỳnh Công P1, sinh năm 1977. Địa chỉ: C Kiệt A P, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Ông Phạm Ngọc V, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ A, khu V, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Ông Trần Khôi N1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ H, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Bà Lại Thị Ngọc M, sinh năm 1989. Địa chỉ: 1 N, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Bà Hồ Thị Kim T2, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn P, X, huyện P, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, quận T, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- + Bà Phan Thị Tâm H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, quận T, thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ là anh em cô cậu ruột và cùng nhau góp vốn để kinh doanh bất động sản với ông Phan Văn P chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nên trong khoản thời gian từ tháng 07 năm 2021 đến tháng 09 năm 2021, bị cáo Nguyễn Văn K đã đặt vấn đề mượn tiền của anh Phan Văn P để mua đất. Tin tưởng K, anh P đã đưa tiền cho K mượn nhưng sau đó K không thực hiện cam kết mà chiếm đoạt tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân. Sau một thời gian dài đòi lại tiền không được; anh P yêu cầu Nguyễn Văn K viết giấy xác nhận nợ và cam kết trả, khi bị đòi tiền nhiều lần Nguyễn Văn K đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú để tránh trách nhiệm trả nợ. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 7 năm 2021, Nguyễn Văn K nói với ông Phan Văn P đang cần tiền để mua lô đất của bà Hồ Thị M1 tại thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) để phân lô, tách thửa bán kiếm lời. Thực tế bà Hồ Thị M1 đồng ý bán cho Nguyễn Văn K một phần đất của mình tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, diện tích 1285m² (chỉ bán chiều ngang 20m, chiều dài hết phần đất) với giá 800.000.000 đồng và K đã đặt cọc tiền). Quá trình thực hiện giao dịch với bà M1, K có nói cho ông P biết và cam đoan với ông P sẽ bán cho ông P 02 (hai) lô đất trong phần đất này sau khi phân lô tách thửa với giá tiền 640.000.000 đồng. Sau khi về xem thửa đất và thống nhất việc mua bán với K, ông Phan Văn P đã chuyển khoản vào tài khoản của K số tiền như thỏa thuận trên, cụ thể:
- Ngày 09/7/2021 anh P chuyển cho K 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng);
- Ngày 03/8/2021 anh P chuyển cho K số tiền 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng);
- Ngày 24/8/2021 anh P chuyển cho K số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
K làm thủ tục chuyển thửa đất trên sang sổ hồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 891799, thửa đất số: 297, tờ bản đồ số 11 đứng tên bà Hồ Thị M1 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 12/01/2023. Đến ngày 18/01/2023, K cùng với bà M1 đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cầm cố cho anh Huỳnh Công P1 với số tiền 1.000.000.000 đồng.
Khi có tiền Nguyễn Văn K dùng trả các khoản nợ ngoài xã hội và ăn chơi tiêu xài cá nhân rồi lấy lý do đang chờ kết quả phân lô tách thửa để né tránh việc giao đất cho anh Phan Văn P.
- Lần thứ hai: Vào khoảng tháng 9 năm 2021, Nguyễn Văn K nói với anh Phan Văn P đang thiếu một số tiền 750.000.000 đồng để mua căn nhà tại địa chỉ 12/87 N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau khi mua, bán lại thì K sẽ thanh toán hết số tiền mà K đã nợ trong việc mua thửa đất tại thôn L, xã P, huyện P và số tiền lần này, anh Phan Văn P đã đồng ý và chuyển số tiền 756.000.000 đồng cho Nguyễn Văn K, cụ thể như sau:
- Ngày 21/9/2021 anh P chuyển K số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng);
- -Ngày 09/12/2021 anh Phan Văn P chuyển K số tiền 506.000.000 đồng (Năm trăm lẻ sáu triệu đồng). Quá trình mua bán nhà tại 12/87 N, K đã đặt cọc tiền cho chủ nhà tuy nhiên do không đủ tiền nên K không thực hiện mua bán.
Sau đó, K đưa ra lý do đang vướng thủ tục pháp lý về đất đai đối với căn nhà trên nên chưa mua bán, công chứng sang tên được, K cam kết sẽ trả lại đủ số tiền cho anh P trong hai lần mua bán đất và nhà này. Sau nhiều lần bị anh P đòi lại số tiền trên Nguyễn Văn K đã viết 02 (hai) tờ giấy xác nhận đề ngày 17/02/2023 cho anh Phan Văn P để xác nhận số tiền đã nợ. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn K đã chiếm đoạt của bị hại là 1.390.000.000 đồng và cam kết với anh P về việc trả lại tiền nhưng K không trả tiền và bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
1. Kết quả trưng cầu giám định:
- Ngày 28 tháng 02 năm 2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 372/QĐ-CSHS trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T( nay là thành phố H) giám định chữ viết và chữ ký. Tại bản kết luận số: 148/KL- KTHS ngày 25 tháng 03 năm 2024 kết luận:
- + Chữ viết, chữ ký mang tên Nguyễn Văn K trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; A2 so với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Văn K trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M4 do cùng một người viết, ký ra.
2. Tạm giữ đồ vật, tài liệu:
2.1 Tạm giữ từ ông Phan Văn P:
- 02 (hai) tờ giấy “giấy xác nhận” đề ngày 17/02/2023 có chữ ký ghi tên Phan Văn P, Nguyễn Văn K;
- 01 (một) tập sao kê ngân hàng gồm 03 (ba) tờ;
- 01 (một) tập sao kê ngân hàng gồm 08 (tám) tờ;
2.2 Tạm giữ từ Nguyễn Quang T1:
- 01 Hợp đồng cho vay tiền ngày 18/01/2023;
- 01 Hợp đồng đặc cọc “v/v chuyển quyền sử dụng đất ở, nhà ở ngày 25/02/2021"
- 01 Bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 891799, thửa đất số: 297, tờ bản đồ số 11 đứng tên bà Hồ Thị M1.
Ngoài ra, cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập các tài liệu sao kê ngân hàng và trích sao tin nhắn zalo của anh Nguyễn Văn P2 và Nguyễn Văn K; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các bản án dân sự của Tòa án.
2.3 Tạm giữ từ Nguyễn Văn K:
- 01 (một) điện thoại di động ViVo, màu đen, rạng màn hình, đã qua sử dụng.
2.4 Xử lý vật chứng:
- Ngày 27 tháng 9 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh nhập kho vật chứng là 01 điện thoại di động ViVo, rạng màn hình, đã qua sử dụng, tạm giữ từ Nguyễn Văn K vào kho vật chứng thuộc Phòng Cảnh sát thi hành án và hỗ trợ tư pháp để phục vụ công tác truy tố, xét xử.
* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, anh Phan Văn P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 700.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ số tiền trên cho anh P, anh P không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 78/CT-VKSTTH-P2 ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm luận tội theo như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn K và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:
Đối với 01 (một) điện thoại Vivo, màu đen, rạng màn hình, đã qua sử dụng, là công cụ bị cáo K dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp nhất để tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mối quan hệ anh em cô cậu, nên Nguyễn Văn K đã trao đổi với ông Phan Văn P về việc cùng nhau góp vốn để kinh doanh bất động sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2021, K đã nhận của ông P 02 lần với số tiền 1.390.000.000 đồng nhằm mục đích mua bán thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ: thôn L, P, P, Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) của bà Hồ Thị M1 và mua bán căn nhà tại địa chỉ: 1 đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H). Tuy nhiên, việc chuyển nhượng không thành công, ông P yêu cầu K trả lại tiền; vào ngày 17/02/2023, K đã viết hai Giấy xác nhận còn nợ ông P số tiền trên, nhưng K không trả mà bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích chiếm đoạt. Hành vi này đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự nhưng do số tiền chiếm đoạt là 1.390.000.000 đồng nên bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số: 78/CT-VKSTTH-P2 ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K, thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhận được tài sản của người khác thông qua việc vay mượn để sử dụng vào mục đích cá nhân dẫn đến mất khả năng trả nợ rồi bỏ trốn khỏi địa phương là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi và muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất lòng tin và nghi ngờ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Văn K, thấy rằng:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự cho người bị hại; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm thành phố H, bị cáo được Bộ trưởng Bộ G tặng Bằng khen cho sinh viên Đ giải khuyến khích - Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học" nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại Phan Văn P số tiền 700.000.000 đồng, người bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền khắc phục hậu quả 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) mà bà Hồ Thị B (mẹ của bị cáo K) nộp tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế theo Biên lai thu tiền số 0000014 ngày 26/02/2025; tại phiên tòa hôm nay, người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử trả lại cho bà Hồ Thị B số tiền nộp khắc phục hậu quả là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000014 ngày 26/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:
Đối với 01 (một) điện thoại di động Vivo, màu đen, rạng màn hình, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo K dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 27/03/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
- - Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
- - Trả lại cho bà Hồ Thị B số tiền nộp khắc phục hậu quả là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000014 ngày 26/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Vivo, màu đen, rạng màn hình, đã qua sử dụng.
(Vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là thành phố H) và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Cao Sơn |
8
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
