Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 04-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Việt
  2. Bà Hà Ngân Kim Tới

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 06/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Sơn Hoàng H (tên gọi khác: N), Sinh ngày 04/10/1998 tại: Xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng;

    Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng;

    Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông Sơn H1, sinh năm 1966 và bà Sơn Thị S1, sinh năm 1959; Vợ, con: Không có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không có;

    Bị cáo H bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 07/11/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

  2. Trà T (tên gọi khác: Không có), Sinh ngày 25/02/2007 tại: Xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng;

    Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông Trà Quít T, sinh năm 1976 và bà Lâm Thị Phi R, sinh năm 1978; Vợ, con: Không có; Tiền án: Không có; Tiền sự: 01 tiền sự (Toà án nhân dân huyện Trần Đề ra Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 25/7/2024 về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 06 tháng);

    Bị cáo Trà T bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 07/11/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trà T: Bà Lâm Thị Phi R, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt). * Người bào chữa cho bị cáo Sơn Hoàng H và T: Ông Nguyễn Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Sơn H1, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
  • - Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

* Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Tăng Rô Qui S2, dân tộc: Khmer, nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Sơn Hoàng H và T là đối tượng thường sử dụng ma tuý, nên vào ngày 27/10/2024, sau khi bị cáo H mua ma tuý của người thanh niên (không rõ đặc điểm thông tin trên đường V thành phố S) với số tiền là 500.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ, ngày 29/10/2024, bị cáo H lấy xe mô tô biển số 83P2- 151.99 điều khiển chở bị cáo T, khi H chở T đi ra một đoạn trước nhà H cách lộ Đal khoảng 50 mét thuộc ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng thì bị cáo H có lấy trong túi quần phải 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa ma túy đưa cho bị cáo T1 cầm trên tay phải. Trên đường đi, bị cáo H điều khiển xe chở T1 đến giữa cầu đường vào ấp B, xã T rồi dừng xe trên cầu hỏi T1 kiếm chỗ nào vắng để sử dụng ma túy nhưng không có chỗ nào vắng để sử dụng ma túy được. Nên bị cáo H điều khiển xe chạy ra đường tỉnh lộ 934 đi về hướng xã T khi đi được một đoạn thì xe bị đứt dây tay ga. kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện trên tay phải của T có cầm 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý) nên đã lập biên Do xe bị đứt dây ga, nên bị cáo H và T vào tiệm sửa xe của ông Trương Hồng N1 (sinh năm: 1985 thuộc ấp C, xã T, huyện T) để sửa xe. Đến 16 giờ 10 phút, ngày 29/10/2024, khi H và T đang ngồi đợi sửa xe, trong quá trình tuần tra do nghi vấn nên lực lượng Đồn Biên phòng T4 tiến hành kiểm tra và phát hiện bị cáo T có cất giấu ma túy nên đã tiến hành lập bên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trà T và Sơn Hoàng H và lập biên bản thu giữ các tài liệu, đồ vật liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 213/KLGĐMT-KTHS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong bịch nylon hàn kính được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5706 gam, loại Methamphetamine.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những tình tiết có ý nghĩa đến giải quyết vụ án:

Về thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài sản, tài liệu và xử lý:

  • - 0,5052 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong;
  • - 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng hiệu Redmi màu xanh dương đã qua sử dụng có gắn số sim 1: 0346854758; số sim 2: 0339022846;
  • - 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng hiệu oppo màu xanh dương (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0334370484;
  • - 01 (một) xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda Future neo, biển kiểm soát: 83P2-151.99 đã qua sử dụng;
  • - Tiền Việt Nam: 1.660.000 đồng (một triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng).

Qua điều tra xác định vật chứng vụ án: 0,5052 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong.

Đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda Future neo, biển kiểm soát: 83P2-151.99 đã qua sử dụng quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Sơn H1 không liên quan đến vụ án nên trao trả lại cho H1;

Đối với tiền Việt Nam 80.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng hiệu Redmi màu xanh dương đã qua sử dụng có gắn số sim 1: 0346854758; số sim 2: 0339022846 là tài sản của bị cáo T qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đã trao trả cho bị cáo T; Tiền việt N2 1.580.000 đồng và 01 (một) điện thoại hiệu oppo màu xanh dương đã qua sử dụng có gắn sim số 0334370484 là tài sản của Sơn Hoàng H qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đã trao trả cho bị cáo Sơn Hoàng H.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Sơn Hoàng H và T thống nhất với kết luận giám định. Các bị cáo khai nhận vào ngày 29/10/2024, bị cáo H có chở bị cáo T bằng xe mô tô biển số 83P2- 151.99 để đi tìm nơi sử dụng ma túy, ma túy mà bị cáo H đưa cho T cầm là do H mua trước đó vào ngày 27/10/2024 của một người đàn ông ở thành phố S với giá 500.000 đồng, trên đường đi tìm nơi sử dụng ma túy, do xe bị đứt dây ga, nên bị cáo H và T vào tiệm sửa xe của ông Trương Hồng N1 (sinh năm: 1985 thuộc ấp C, xã T, huyện T) để sửa xe. Đến 16 giờ 10 phút, ngày 29/10/2024, khi H và T đang ngồi đợi sửa xe, do nghi vấn nên lực lượng Đồn Biên phòng T4 đang tuần tra kiểm soát đã yêu cầu bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và Sơn Hoàng H và lập biên bản thu giữ các tài liệu, đồ vật liên quan.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Lâm Thị Phi R khai nhận: Bà là mẹ của Trà T, khi cơ quan công an ghi lời khai của T bà có than dự, hằng ngày T sống cùng gia đình và trước đó bà có nghe T3 có sử dụng ma túy nên bà có la T và đến ngày 29/10/2024 thì có bộ đội biên phòng và công an xã L đến cho bà hay là T có mang theo ma túy và bị bắt cùng H ở xã T.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Sơn H1 khai nhận: Ông là cha của bị cáo H, chiếc xe mô tô biển số 83P2- 151.99 là của ông, vào ngày 29/10/2024 do bị bệnh nên ông có kêu H lấy xe đi mua thuốc nhưng không thấy H về đến khi công an đến nhà thì ông mới biết H bị bắt vì liên quan đến ma túy, hằng ngày ông biết H có sử dụng ma túy nhưng biết H sử dụng ở đâu, đối với chiếc xe hiện nay ông đã nhận lại rồi nên ông không có ý kiến gì khác.

Trong quá trình điều tra ông Nguyễn Xuân T2 khai nhận: Chiếc xe mô tô biển số 83P2- 151.99 trước đây là của ông nhưng ông đã bán cho ông Sơn H1 vào năm 2017, khi bán có làm giấy tờ mua bán và giao giấy đăng ký xe cho ông H1.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSTĐ ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với các bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo H đề áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời đề nghị xử phạt Sơn Hoàng H từ 02 năm đến 03 năm tù và bị cáo Trà T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù và giải quyết về xử lý vật chứng, án phí của vụ án.

Lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo Sơn Hoàng H: Luật sư thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo H cũng như các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, tuy nhiên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân của bị cáo là người dân tộc Khmer, gia đình khó khăn, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình tố tụng bị cáo luôn thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn cho nên chỉ cần xử phạt bị cáo mức án thấp mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa và xin được miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

Lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trà T: Luật sư thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo T, tuy nhiên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân của bị cáo là người dân tộc Khmer, gia đình khó khăn, không có tiền án, phạm tội từ H rủ rê, khi chưa đủ 18 tuổi, trong quá trình tố tụng bị cáo luôn thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn cho nên chỉ cần xử phạt bị cáo mức án thấp mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa và xin được miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo Sơn Hoàng H và T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân T2 tại phiên tòa. Xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Các bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy nên đã mua ma túy về sử dụng, vào ngày 27/10/2024 bị cáo H đã đi mua ma túy của một người đàn ông ở thành phố S, đến ngày 29/10/2024 bị cáo H đã chở bị cáo T để đi tìm nơi sử dụng ma túy, trên đường đi bị cáo H đã đưa ma túy cho bị cáo cất giữ, trong quá trình tuần tra do nghi vấn nên lực lượng Đồn Biên phòng T4 tiến hành kiểm tra và phát hiện bị cáo T có cất giấu ma túy nên đã tiến hành lập bên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và Sơn Hoàng H.

[4] Tại Kết luận giám định số 213/KLGĐMT-KTHS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong bịch nylon hàn kính được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5706 gam, loại Methamphetamine. Điều đó có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố các bị cáo Sơn Hoàng H và Trà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo Sơn Hoàng H và T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý về các chất ma túy của Nhà nước đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Xét với mức độ, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức án tù tương xứng đối với bị cáo, để có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét các tình tăng nặng giảm nhẹ như sau:

  • - Đối với bị cáo H: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và các bị cáo là người dân tộc Khmer. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
  • - Đối với bị cáo T: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có một tiền sự (bị Toà án nhân dân huyện Trần Đề ra Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 25/7/2024 về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 06 tháng), về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo không có tiền án. Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc Khmer, lúc phạm tội dưới 18 tuổi. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 0,5052 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong. Xét thấy vật chứng nêu trên là công cụ phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng, do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với các vật chứng, tài sản đã thu giữ mà cơ quan điều tra đã xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Lời trình bày của Luật sư bào chữa cho các bị cáo:

  • - Đối với ý kiến đề nghị xử phạt các bị cáo mức án thấp mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, xét thấy: Trước tình hình tội phạm về ma túy hiện nay ngày càng tăng, nếu xử phạt mức án khởi điểm của Kiểm sát viên đề nghị là không đủ răn đe giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội nên đề nghị này Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  • - Đối với ý kiến xin được miễn án phí cho các bị cáo, xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu này của Người bào chữa.

[9] Đối với người thanh niên bán ma túy cho Sơn Hoàng H do thông tin người này quá ít nên chưa tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ.

[10] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Sơn Hoàng H, T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp bị cáo T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Sơn Hoàng H.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo T.

* Tuyên bố các bị cáo Sơn Hoàng H, T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Sơn Hoàng H 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Trà T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2024.

* Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 0,5052 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong.

(Các vật chứng và tài sản trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/01/2025).

- Đối với các vật chứng, tài sản đã thu giữ mà cơ quan điều tra đã xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

* Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Sơn Hoàng H, T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp bị cáo T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NCLQ;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sóc Trăng
  • (cơ quan CSĐT, bộ phận HSNVCS, cơ quan
  • THAHS và Phân trại tạm giam Công an tỉnh
  • Sóc Trăng);
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu (HSVA & TA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Lý Công Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Sơn Hoàng H, Trà T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger