TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————— |
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 03/03/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Hùng Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Đắc Tỵ.
- Bà Nguyễn Thị Khánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hoa – Thư ký tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trần Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 và 03 tháng 03 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo:
1.1. Họ và tên: Nguyễn Bá H, sinh ngày: 06/06/1970; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú (HKTT) và chỗ ở: Thôn M, T, L, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Bá Ậ (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1942, HKTT: Thôn S, P, L, Hòa Bình; Vợ: đã ly hôn; Con: Có 02 con.
* Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2024 đến 15/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.
1.2. Họ và tên: Lê Văn H1, Sinh ngày: 26/6/1964; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: thôn B, N, K, Hà Nam; Nơi ở hiện tại: Thôn H, T, L, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Bố đẻ: Lê Văn Đ, (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Đ1, (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, (Đã chết); Có 05 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân: Ngày 26/5/2010 đánh bạc bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xử 09 tháng án tù nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2024 đến 15/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.
1.3. Họ và tên: Bùi Văn K, sinh ngày: 12/8/1978; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn C, T, L, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Bố đẻ: Bùi Văn M, (Đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị Đ2, (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1978, HKTT: Thôn C, T, L, Hòa Bình; Có 03 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân: ngày 26/7/2022 bị Công an xã T, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2024 đến 09/12/2024. Có mặt tại phiên tòa.
1.4. Họ và tên: Nguyễn Văn H2, sinh ngày: 01/10/1974; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn B, P, L, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Bố đẻ: Nguyễn Khắc T1, (Đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị Đ3, sinh năm 1949; Vợ: Cao Thị N, sinh năm 1974, HKTT: Thôn B, P, L, Hòa Bình; Con: Có 02 con.
* Tiền án: Không.
* Tiền sự: Ngày 24/11/2023 bị Công an xã P, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2024 đến 15/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Quách Thị Q, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Trú tại: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
3. Người làm chứng:
- Anh Trần Văn C, sinh năm 1985. Vắng mặt.
Trú tại: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình
- Anh Trần Trung D, sinh năm 1988. Có mặt.
Trú tại: thôn Hợp Thành, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
4. Người chứng kiến:
- Anh Bùi Toàn T2, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Trú tại: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa - Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 có mối quan hệ quen biết xã hội với nhau từ trước.
Khoảng 21 giờ ngày 07/11/2024, Nguyễn Bá H, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 cùng Trần Trung D và Trần Văn C đến trang trại của Lê Văn H1 tại thôn T, xã T chơi, uống nước cùng Lê Văn H1 và chị Quách Thị Q là người làm cùng với H1 tại trang trại.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Bá H rủ mọi người đánh bài ăn tiền thì H1, K, H2 đều đồng ý. Lê Văn H1 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ cũ gồm 52 lá bài trên chiếc loa ở phòng khách rồi cùng với H, Nguyễn Văn H2, Bùi Văn K ngồi xuống chiếc chiếu nhựa đã trải sẵn dưới nền nhà để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” (tá lả) tính điểm được, thua bằng tiền. Còn Trần Văn C, Trần Trung D và Quách Thị Q ngồi xem không tham gia đánh bạc.
Các bị cáo đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm ăn tiền, cụ thể: Bốn người sử dụng 01 bộ bài tây gồm 52 lá chia cho mỗi người 09 lá, riêng người chia được 10 lá và sẽ là người đánh trước, phần bài còn lại được đặt giữa chiếu bạc. Nếu lá bài đánh xuống người bên cạnh kết hợp với các lá bài của mình đang có gồm ít nhất 03 lá giống nhau hoặc liền nhau cùng chất thì được ăn lá bài đó để tạo thành “phỏm” và đánh ra lá bài khác cho người kế tiếp, nếu không ăn được thì bốc thêm 01 lá ở phần bài chưa chia rồi đánh ra 01 lá cho người kế tiếp. Mỗi ván người chơi được bốc và đánh tối đa 04 lượt. Trong quá trình chơi nếu người nào trong 10 lá bài trên tay có 09 lá tạo thành “Phỏm” được gọi là “Ù” thì thắng, ván bài kết thúc và 3 người còn lại mỗi người thua số tiền 50.000 đồng. Nếu kết thúc ván bài không có người “Ù” thì sẽ tính điểm của các lá bài không tạo thành “Phỏm”, người thắng là người có số điểm ít nhất, những người còn lại sẽ thua số tiền lần lượt theo thứ tự nhì, ba, tư là 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng, nếu không có phỏm thì thua 40.000 đồng.
Các bị cáo Nguyễn Bá H, Bùi Văn K, Lê Văn H1 và Nguyễn Văn H2 đánh bạc đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng số tiền trên chiếu bạc 6.210.000 đồng, 01 bộ bài gồm 52 lá bài và 01 chiếu nhựa.
Quá trình điều tra xác định, khi tham gia đánh bạc, các bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc như sau: bị cáo Lê Văn H1 1.200.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn H2 2.600.000 đồng; Bùi Văn K 1.200.000 đồng; Nguyễn Bá H 1.210.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.210.000 đồng.
Cáo trạng số: 11/CT-VKSND-LT ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy truy tố các bị cáo: Nguyễn Bá Hải, Lê Văn Hà, Bùi Văn Khánh, Nguyễn Văn H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (BLHS).
* Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 thừa nhận hành vi đánh bạc nhằm mục đích sát phạt lẫn nhau.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Q: Chiếc chiếu nhựa đã cũ, không còn giá trị sử dụng, không có yêu cầu gì về dân sự.
- - Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- + Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H từ 7 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo.
- + Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 7 đến 10 tháng tù.
- + Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn H1, Bùi Văn K từ 7 đến 10 tháng án tù, nhưng cho hưởng án treo.
- + Về hình phạt bổ sung: Không.
- + Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 47 BLHS và Khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 6.210.000 đồng là tiền các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 quân, 01 chiếu nhựa là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng
- + Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
- - Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 năn hối lỗi, nhận ra hành vi vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT Công an huyện L, Điều tra viên; VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 đã bị bắt quả tang đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức “Đánh phỏm” vào khoảng 23 giờ 10 phút, ngày 07/11/2024 tại trang trại của Lê Văn H1 có địa chỉ thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, tổng số tiền đánh bạc là: 6.210.000 đồng.
[3]. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do vậy, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 BLHS như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi Đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 thuộc loại tội ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân bởi là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác.
[5]. Xét vị trí, vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội thấy:
Bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 thừa nhận tại phiên tòa khi bị cáo H rủ chơi thì H1, K, H2 đều hiểu ý ra chơi bài bằng hình thức “Đánh phỏm”, không có thỏa thuận, rủ nhau từ trước nên hành vi không có tổ chức, mang tính đồng phạm giản đơn
Bị cáo Nguyễn Bá H là người rủ chơi bài và tham gia đánh bạc bằng hình thức “Đánh phỏm” được thua bằng tiền.
Các bị cáo Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 là người tham gia đánh bạc.
[6]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
- * Về nhân thân: Các bị cáo H1, K đã được xóa án tích, xóa tiền sự từ lâu: Ngày 26/5/2010 bị cáo Lê Văn H1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo; Ngày 26/7/2022 bị cáo Bùi Văn K bị Công an xã T, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép.
- Nguyễn Văn H2 ngày 24/11/2023 bị Công an xã P, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép (Chưa được xóa tiền sự).
- * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với tất cả các bị cáo. Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- * Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Khoản 2, Điều 51 BLHS của các bị cáo:
- Đối với bị cáo H có bố là ông Nguyễn Bá Ậ và mẹ là bà Nguyễn Thị L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- Bị cáo H1 có bố là ông Lê Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất.
- Bị cáo H2 có bố là ông Nguyễn Khắc T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Mẹ là Bùi Thị Đ3 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo năm 2021 bị phẫu thuật sọ não, có bệnh tiểu đường.
- Bị cáo K là lao động chính trong gia đình, bản thân là người dân tộc, sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn của huyện, học vấn thấp.
[7]. Về hình phạt chính:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt chính tương xứng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm; đặc biệt là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H2 có nhân thân xấu (Ngày 24/11/2023 bị Công an xã P, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép). Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
Đối với bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng nên đủ các điều kiện để cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo.
[8]. Về hình phạt bổ sung:
Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[10]. Về các nội dung khác:
Quá trình điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 28FL-019.59 thu giữ trong vụ án là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Bá H không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý số vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. HĐXX cho là phù hợp.
Đối với Trần Văn C, Trần Trung D và Quách Thị Q, quá trình điều tra xác định C, D và Q chỉ ngồi xem và không tham gia đánh bạc cùng, không có vai trò gì khác nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. HĐXX cho là phù hợp.
[11]. Về án phí:
Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K, Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
1.2. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án. (Được trừ đi thời gian tạm giữ từ 08/11/2024 đến 15/11/2024).
1.3. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Lê Văn H1 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Bị cáo Bùi Văn K 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách cho mỗi bị cáo là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
1.4. Đối với các bị cáo bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo:
- - Giao bị cáo Nguyễn Bá H, Lê Văn H1, Bùi Văn K cho UBND xã T, L, Hòa Bình quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
- - Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
- - Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cho hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng:
Căn cứ Khoản 1 Điều 47 BLHS và Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 6.210.000 đồng.
- (Số tiền trên theo giấy Ủy nhiệm chi ngày 06/02/2025 vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy).
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 quân; 01 chiếu nhựa.
- (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình).
3. Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 – BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Hùng Dũng |
Nơi nhận:
- - TAND; Viện kiểm sát ND tỉnh HB;
- - VKSND huyện Lạc Thuỷ; Công an tỉnh;
- - Bị cáo; Người có QL.NVLQ;
- - Thi hành án HS;
- - Chi cục Thi hành án DS Lạc Thuỷ;
- - Sở tư pháp tỉnh HB;
- - UBND xã, TT .............;
- - Lưu HS.
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
