Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 07/2025/HS-PT

Ngày: 26/03/2025

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM


Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thành

Ông Nguyễn Hành

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Trần Quỳnh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Mai, Bà Nguyễn Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Sáng ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Quốc H, do có kháng cáo của bị cáo Trần Quốc H, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Quốc H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 11 năm 1977 tại Phú Yên. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...] cấp ngày 08/04/2021, nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Con ông Trần L, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Trần Thị X, sinh năm 1936; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Con Trần Thị Minh C, sinh năm 2001 và Trần Quốc M, sinh năm 2004. Bị cáo là con thứ mười trong gia đình có 11 anh chị em. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/10/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Quốc H là nhân viên lái xe của Công ty Cổ phần Đ theo hợp đồng lao động số 22/DT-HĐLĐ ngày 01/4/2024 với nhiệm vụ là lái xe, ngoài ra không có chức năng, quyền hạn gì khác. Sáng ngày 07/9/2024 H được Công ty phân công điều khiển xe ô tô BKS: 82C-006.53 đến Nông trường A thuộc Công ty Cổ phần Đ ( Gọi tắt là Công ty) đóng tại Thôn C - xã I - huyện I để chở mủ cao su đến nhà máy chế biến mủ cao su thuộc Thôn I - xã I- huyện I. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi công nhân bốc mủ lên xe xong thì anh Hồ Đắc L1 Xin là người được Nông trường phân công đi giám sát quá trình vận chuyển mủ nói với H “Đi đi, tý có người theo sau”. Bản thân H biết rõ việc này và khi nghe X1 đồng ý cho xuất phát thì bắt đầu điều khiển xe chở theo mủ cao su đi về hướng nhà máy chế biến mủ cao su. Khi đi đến khu vực cây xăng gần trung tâm huyện, H thấy ông Đỗ Ngọc Hồng điều K xe ô tô BKS 82C049.42 đi qua, vì biết ông H1 thu mua mủ cao su và lúc này quan sát không thấy người của Công ty đi cùng giám sát nên H nảy sinh ý định trộm mủ cao su của Công ty bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H nháy đèn xe và gọi ông H1 lại, cả hai dừng xe lại và nói chuyện. Lúc này H hỏi ông H1 có mua mủ không, ông H1 nói có và hỏi mủ ở đâu thì H nói có mấy cục mủ cao su của H muốn bán, ông H1 đồng ý, H hẹn ông H1 đến đoạn đường đất phía sau bến xe tại Thôn A - xã I - huyện I và điều khiển xe ô tô đến đó đợi ông H1. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, ông H1 đến chỗ hẹn, H hướng dẫn cho xe ông H1 áp sát và đậu song song với xe ô tô của H theo hướng ngược chiều nhau. Tại đây, sau khi quan sát không có ai nên H đứng trên xe bốc 12 cục mủ tạp đông cao su bỏ sang thùng xe ông H1; sau khi bốc mủ xong, vì không có cân và sợ lúc này bị người của Công ty đi theo xe phát hiện nên H nói ông H1 đem mủ đi cân và tính tiền sau, rồi H tiếp tục điều khiển xe chạy về hướng nhà máy C1 mủ cao su.

Về phía anh X1, sau khi H xuất phát đã trực tiếp đi xe máy theo sau để thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình; trên đường đi nhận thấy H điều khiển xe không đúng tuyến đường và cho xe đi chậm nên đã nghi vấn và dừng lại báo về Nông trường để cử người hỗ trợ. Sau khi có người hỗ trợ đến, cả hai đã tiếp tục đi theo xe giám sát nên đã phát hiện sự việc và kịp thời ngăn chặn đồng thời báo cho cơ quan Công an để xác minh, làm rõ.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản tố tụng hình sự số 07/2024/KL-HĐĐG ngày 12/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I kết luận: Tổng giá trị của 12 cục mủ tạp đông cao su, khối lượng 689 kg là 12.891.190 đồng (Mười hai triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, một trăm chín mươi đồng).

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm, 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 08 (T1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Ngày 12 tháng 01 năm 2025, bị cáo Trần Quốc H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, không thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Qua phân tích đánh giá về việc xét xử của tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy, cấp sơ thẩm đã xem xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt 8 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo xin được hưởng án treo, thấy rằng bị cáo bị xử phạt tù không quá 3 năm, nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, đủ điều kiện cho hưởng án treo theo Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm 01 giấy khen do Chủ tịch UBND xã M, huyện S, tỉnh Kon Tum tặng công dân có hành động dũng cảm cứu người bị đuối nước, đây là tình tiết mới tại cấp phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm U Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum theo hướng: Giữ nguyên mức hình phạt là 8 (tám) tháng tù nhưng áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo rất ăn năn, hối hận nhận biết hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo Trần Quốc H kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo nên được Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 07/9/2024, tại Thôn A - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum, Trần Quốc H, SN: 1977, trú tại Thôn H - xã Đ - Tp . - tỉnh Kon Tum là nhân viên lái xe của Công ty cổ phần Đ (Gọi tắt là Công ty), trong quá trình được Công ty phân công điều khiển xe ô tô BKS 82C-006.53 chở mủ cao su từ Nông trường A, tại thôn C - xã I - huyện I đến nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty tại Thôn I - xã I - huyện I đã có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp 12 cục mủ tạp đông cao su với tổng khối lượng 689 kg của Công ty để bán cho ông Đỗ Ngọc H1, SN 1970; trú tại: Làng K - xã M - huyện S tỉnh Kon Tum với mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị của 12 cục mủ tạp đông cao su, khối lượng 689 kg là 12.891.190 đồng (Mười hai triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, một trăm chín mươi đồng).

Với hành vi trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Quốc H thấy rằng:

Quá trình xét xử sơ thẩm Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cũng như về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 08 (T1) tháng tù là phù hợp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, cần được xử lý nghiêm bằng chế tài hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chủ sở hữu đã nhận lại tài sản. Trong thời gian được tại ngoại, bị cáo không có vi phạm pháp luật gì mới mà còn có hành động dũng cảm cứu người bị đuối nước được Chủ tịch UBND xã M, huyện S, tỉnh Kon Tum tặng giấy khen đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà chỉ cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, cần xem xét giữ nguyên mức hình phạt là 08 (T1) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo – Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt cho bị cáo hưởng án treo do có tình tiết mới.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s, u khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 08 (T1) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (26/03/2025). Giao bị cáo Trần Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/03/2025).


Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - TAND huyện Ia H'Drai;
  • - VKSND huyện Ia H'Drai;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Kon Tum;
  • - UBND xã Đăk Cấm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Văn Thuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử phúc thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger