TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 6 - 2025 V/v “Xin ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Cẩm Nhung
Bà Đinh Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Huyền Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, về việc xin ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Xuân Mai H, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: D T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.
Nơi cư trú: 2669 E, V, BC V, Canada.
- Bị đơn: Ông Phạm Đức N, sinh năm 1969.
Địa chỉ: D T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.
Nơi cư trú: 2669 E, V, BC V, Canada.
(Bà H, ông N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Trần Xuân Mai H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông N kết hôn vào ngày 20/6/1992 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cho đến năm 2019, bà H đưa con gái sang Canada du học và ở lại để chăm sóc cho con gái. Khoảng thời gian bà H ở Canada chỉ liên lạc được với chồng thông qua mạng xã hội. Năm 2024, bà H có về Việt Nam để đưa ông N qua Canada sống cùng bà nhưng vì nhiều năm xa cách nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Dù hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.
Về con chung: Có 02 người con chung là Phạm Ngọc K, sinh ngày 10/01/1994 và Phạm Ngọc H1, sinh ngày 24/8/2005. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành ở với ai do con chung tự quyết định.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung và nợ chung.
Theo bản tự khai của bị đơn ông Phạm Đức N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H kết hôn vào ngày 20/6/1992 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cho đến năm 2019, bà H dẫn con gái là chị Phạm Ngọc H1 sang Canada du học và ở lại Canada chăm sóc cho con gái. Trong khoảng thời gian sinh sống tại Canada, ông và bà H không chung sống với nhau mà chỉ liên lạc qua mạng xã hội. Năm 2024, bà H về Việt Nam thăm gia đình và đưa ông N sang Canada chung sống. Tuy nhiên, sau nhiều năm xa cách, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 người con chung là Phạm Ngọc K, sinh ngày 10/01/1994 và Phạm Ngọc H1, sinh ngày 24/8/2005. Hiện nay, con chung đã trưởng thành ở với ai do con tự quyết định.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết
Do hiện tại ông đang sinh sống tại nước ngoài nên không thể có mặt tại Việt Nam. Đề nghị Tòa án cho ông được vắng mặt.
Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng không tiến hành hòa giải vụ án được do nguyên đơn bà H và bị đơn ông N đều có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Xuân Mai H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Đức N, sinh năm: 1969; địa chỉ: Số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: B E, V, BC V, Canada. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án thì ông N không có mặt tại Việt Nam và đang sinh sống tại Canada. Do đó, xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Xuân Mai H và bị đơn ông Phạm Đức N đều có bản tự khai và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông N theo quy định chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Xuân Mai H và ông Phạm Đức N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân nhân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29/92, quyển số 02 ngày 20/6/1992. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cho đến năm 2019, bà H dẫn con gái là chị Phạm Ngọc H1 sang Canada du học và ở lại Canada chăm sóc cho con gái. Trong khoảng thời gian sinh sống tại Canada, hai vợ chồng không chung sống với nhau mà chỉ liên lạc qua mạng xã hội. Năm 2024, bà H về Việt Nam thăm gia đình và đưa ông N sang Canada chung sống. Tuy nhiên, do khoảng cách địa lý xa xôi làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt và phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay bà H và ông N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông bà đều có nguyện vọng xin được thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, do bà H và ông N vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà H và ông N được ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Phạm Ngọc K, sinh ngày 10/01/1994 và Phạm Ngọc H1, sinh ngày 24/8/2005. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành ở với ai do con chung tự quyết định. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng đều xác định không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giaogiao và Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Trần Xuân Mai H. Cho bà Trần Xuân Mai H và ông Phạm Đức N được ly hôn.
- Về án phí: Bà Trần Xuân Mai H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0009752 ngày 04/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Xuân Mai H được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án. Ông Phạm Đức N được quyền kháng cáo là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Vân |
Các Hội Thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | |
Đinh Thị Minh | Nguyễn Cẩm Nhung | Lê Thị Vân |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà H và ông N
