TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 3 năm 2025
“V/v Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Kim Dung
Bà Bùi Thị Thu Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 299/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Anh Lê Mạnh C, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt;
Bị đơn: Chị Phùng Thị Hồng H, sinh năm 2003; địa chỉ: Khu dân cư M, đường N, tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Lê Mạnh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phùng Thị Hồng H tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là xã S), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 24 tháng 4 năm 2023. Sau khi kết hôn, vì không hòa hợp nên vợ chồng anh đã không chung sống cùng nhau như những vợ chồng khác. Vì thế mà hai bên không nảy sinh tình cảm vợ chồng. Gia đình anh và chị H đều biết chuyện nhưng không có biện pháp gì giúp anh chị hòa hợp chung sống. Đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên xin được ly hôn với chị H.
Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Chị Phùng Thị Hồng H đã được tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng chị H đều không có mặt nên không có ý kiến gì.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của ông Phùng Văn Đ, sinh năm 1979 là bố đẻ của chị Phùng Thị Hồng H, hiện nay đang sống tại khu dân cư mới Đ, đường N, tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Đ trình bày: Chị Phùng Thị Hồng H là con gái của ông và anh Lê Mạnh C có tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2023. Từ khi kết hôn, anh C và chị H chung sống không hòa hợp, ai có nhà người nấy ở, thường xuyên ly thân nhau. Ông khẳng định anh C và chị H không có con chung, không có tài sản chung. Hiện nay, chị H đang sống cùng với vợ chồng ông nhưng do chị H sức khỏe yếu, thường xuyên phải đi điều trị bệnh nên không thể đến Tòa án làm việc được. Ông đề nghị Tòa án giải quyết cho anh C, chị H được ly hôn.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho kết quả: Việc đăng ký hết hôn như anh C trình bày là đúng. Chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V cho kết quả anh C, chị H không chung sống cùng nhau tại địa phương nên không nắm được tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn vì vậy chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nghĩa vụ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định, không vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Lê Mạnh C được ly hôn chị Phùng Thị Hồng H; về án phí: Buộc anh Lê Mạnh C phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Anh Lê Mạnh C khởi kiện ly hôn chị Phùng Thị Hồng H có địa chỉ cư trú tại khu dân cư M, đường N, tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp ly hôn nói trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.2 Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong vụ án, bị đơn chị Phùng Thị Hồng H đã được tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng chị H đều không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Phùng Thị Hồng H theo trình tự thủ tục đã được quy định.
2. Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký theo quy định pháp luật nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh chị không chung sống cùng nhau vì bất hòa trong quan điểm sống. Các bên không có biện pháp gì để đoàn tụ vợ chồng, việc đó kéo dài từ khi kết hôn đến thời điểm hiện tại nên có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân giữa anh C, chị H không đạt được mục đích. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh C là có căn cứ được chấp nhận.
2.2 Về con chung, tài sản và các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh C đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị H nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
4. Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố V phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Mạnh C.
Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Mạnh C được ly hôn chị Phùng Thị Hồng H. Thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về quan hệ con chung: Không có.
Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Mạnh C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0006264 ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã Ký Trần Việt Quang |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Mạnh C khởi kiện ly hôn chị Phùng Thị Hồng H
