TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
V/v “Tr/c Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và ông Nguyễn Quang Tuyến
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký TAND khu vực 8 – Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- HKTT: Tổ dân phố Q, phường M, tỉnh Tuyên Quang
- - Bị đơn: Anh Trần Danh D, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
- HKTT: Tổ dân phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh
- Hiện đang chấp hành án tại đội 1, phân trại số B, Trại giam N, cục C – Bộ C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai gửi Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Danh D được tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và chung sống với nhau từ năm 2019. Ngày 13/4/2022 chị và anh D được UBND xã P (nay là phường P) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh chị chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng về quan điểm sống. Anh D mải chơi, tụ tập bạn bè xấu nên vợ chồng sảy ra nhiều bất đồng trong cuộc sống. Đến năm 2024, anh D bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và hiện đang chấp hành án tại trại giam N. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đã đưa con về nhà đẻ ở tỉnh Tuyên Quang sinh sống. Để ổn định cuộc sống của chị và con chung nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Danh D.
Về con chung: Vợ chồng chị sinh được 01 con chung là Trần Danh Q, sinh ngày 26/10/2019. Hiện tại con chung do chị nuôi dưỡng và chăm sóc. Khi ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Danh D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H chung sống cùng nhau từ năm 2019. Trong thời gian chung sống anh chị có sinh được 01 con chung. Đến ngày 13/4/2022, anh và chị H được UBND xã P (nay là phường P) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì cuộc sống hôn nhân của anh chị diễn ra bình thường và đến tháng 11/2023, anh bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, vợ chồng mới sống ly thân cho đến nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, bản thân anh nhận thấy tình cảm vợ chồng về phía anh vẫn còn. Tuy nhiên, do cuộc sống và điều kiện thực tế thì anh nhận thấy vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ và anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
Về con chung: Vợ chồng trong thời gian chung sống có sinh được 01 con chung là Trần Danh Q, sinh ngày 26/10/2019. Hiện cháu Q đang ở với chị H. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Danh D đều xác nhận đã được kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ trong hồ sơ, đều có đơn xin từ chối hòa giải và xin giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong bản tự khai và biên bản ghi lời khai.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên toà nhận xét:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.
Nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị xử:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trần Danh D.
Về con chung: Giao con chung là Trần Danh Q cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh Duy có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Danh D đều có yêu cầu xin được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Danh D được tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau từ năm 2019. Ngày 13/4/2022, anh chị được UBND xã P (nay là phường P) cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng không thành. Tháng 11/2023, anh D đã bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đã bị kết án và đang chấp hành án tại trại giam N thuộc Bộ C1. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Do vậy chị H xin ly hôn anh D. Quá trình giải quyết, anh D cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh D là có thật trên thực tế, được các bên thừa nhận là mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ. Xét cầu xin ly hôn của chị H là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Danh D có 01 con chung là Trần Danh Q, sinh ngày 26/10/2019. Hiện cháu Q đang được chị H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H xin được nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Quá trình giải quyết, anh D đồng ý với yêu cầu và nguyện vọng của chị H.
Xét sự thống nhất thỏa thuận giao cháu Q cho chị H nuôi dưỡng là sự tự nguyện của anh D và chị H. Sự thỏa thuận này phù hợp với thực tế nuôi dưỡng, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị H và anh D đều xác định không có và không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét và giải quyết là phù hợp.
Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trần Danh D.
Về con chung: Giao con chung là Trần Danh Q, sinh ngày 26/10/2019 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết. Anh Duy có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở anh D thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số 0001087 ngày 03/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Trần Danh D - ly hôn
