TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 27/03/2025 “V/v Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Văn Hữu
- Ông Bùi Đức Quảng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Giang Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2024/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QÐST - HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị P, sinh năm 1984.
Bị đơn: Anh Hà Vĩnh H, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: Xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Đinh Thị H1 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P
(Bà T, bà H1 có mặt, Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chị P, anh H khi cưới về cuộc sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, dẫn tới vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị P, anh H có 02 con chung là Hà Thị Ngọc D, sinh ngày 06/02/2017 và Hà Ngọc Bảo Đ, sinh ngày 22/7/2019. Ly hôn chị xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chi có thu nhập từ 8.000.000 đ đến 9.000.000 đ/ 1 tháng.
Về tài sản chung, công nợ và công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
3. Các nội dung khác: Không
*Bị đơn anh Hà Vĩnh H đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng theo qui định của phát luật thông qua khu hành chính và gia đình nhưng anh H cố tình lẩn tránh. Khu hành chính và gia đình đã thông báo cho anh H về việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn thụ lý đơn chị P xin ly hôn anh nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không lý do.
Tại biên bản xác minh ngày 12/02/2025 ông Hà Văn T1 là bố đẻ anh Hà Vĩnh H, cùng ông Hà Văn K, trưởng khu hành chính xóm T, và UBND xã V đều xác nhận:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh H đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chị P, anh H những năm đầu cuộc sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, dẫn tới vợ chồng sống ly thân. Hiện tại vợ chồng có mâu thuẫn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho cả chị P, anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị P, anh H có 02 con chung là Hà Thị Ngọc D, sinh ngày 06/02/2017 và Hà Ngọc Bảo Đ, sinh ngày 22/7/2019.
Về tài sản chung, công nợ và công sức: Không nắm được
* Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T đã phân tích đánh giá toàn bộ nội dung vụ án xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị Hà Thị P và anh Hà Vĩnh H không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục, anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, chị P cương quyết xin được ly hôn anh H. Bà T nhất trí như ý kiến của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho chị Hà Thị P được ly hôn anh Hà Vĩnh H. Giao cháu Hà Thị Ngọc D và Hà Ngọc Bảo Đ cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên. Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho chị Hà Thị P.
*Quan điểm của Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn: Bà Đinh Thị H1 đã phân tích đánh giá toàn bộ nội dung vụ án xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị Hà Thị P và anh Hà Vĩnh H có mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, chị P xin được ly hôn anh H. Bà H1 đề nghị HĐXX căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Trường hợp HĐXX cho chị P được ly hôn anh H thì giao cháu Hà Thị Ngọc D và Hà Ngọc Bảo Đ cho chị P, tiếp tục nuôi dưỡng đến khi hai cháu thành niên.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về lập hồ sơ và thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Điều 70-71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70-72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83- Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. giải quyết cho chị Hà Thị P được ly hôn anh Hà Vĩnh H. Về con chung: giao cháu Hà Thị Ngọc D, sinh ngày 06/02/2017 và Hà Ngọc Bảo Đ, sinh ngày 22/7/2019 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P do chị P không có yêu cầu.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có HKTT tại khu T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 17/3/2025, chị Hà Thị P nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại Tòa án. Anh Hà Vĩnh H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1+3 Điều 228; Điều 238- Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và phát biểu về giải quyết nội dung vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình bởi lẽ: Chị Hà Thị P và anh Hà Vĩnh H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn tới vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay, chị P đã đưa hai con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị P.
[3] Về con chung: Chị P và anh H có 02 con chung là cháu Hà Thị Ngọc D, sinh ngày 06/02/2017 và Hà Ngọc Bảo Đ, sinh ngày 22/7/2019 hiện nay đang ở cùng chị P. Ly hôn, chị P xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, chị P hiện nay làm lao động tự do tại địa phương có mức thu nhập bình quân từ 08 triệu đồng đến 09 triệu đồng, đủ điều kiện nuôi các con ăn học. Anh H cố tình trốn tránh không hợp tác làm việc với Tòa án, không trình bày quan điểm việc nuôi con. HĐXX xét thấy cần giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi thành niên là phù hợp. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị P không có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Hà Thị P không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên không xem xét
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hà Thị P là người dân tộc thiểu số cư trú ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Quan điểm của Kiểm sát viên và các Trợ giúp viên pháp lý là phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 1+2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1+3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị P được ly hôn anh Hà Vĩnh H.
- Về con chung: Giao cháu Hà Thị Ngọc D, sinh ngày 06/02/2017 và Hà Ngọc Bảo Đ, sinh ngày 22/7/2019 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi thành niên. Anh Hà Vĩnh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P do chị không có yêu cầu.
Chị P và anh H đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Hà Thị P. Trả lại cho chị P 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004432 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Khắc Vĩnh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v Ly hôn
