|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/03/2025 V/v: Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tư;
- Bà Lê Thị Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 426/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1988;
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Số nhà E đường N, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Số nhà E đường N, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Bà K, ông T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị K trình bày:
Bà kết hôn và chung sống với ông Phạm Văn T từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống vợ chồng bình thường, có mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Khoảng 06 năm nay, giữa vợ chồng bà phát sinh thêm nhiều mâu thuẫn do ông T đi làm nhưng không mang tiền về chi phí sinh hoạt gia đình, lo cho vợ con mà chỉ tụ tập bạn bè chơi bời, nhậu nhẹt, thậm chí gây nợ nần bên ngoài ảnh hưởng tới cuộc sống của bà và các con; khi vợ chồng to tiếng cãi vã thì ông T đánh đập bà và đập phá đồ đạc trong gia đình. Bản thân bà đã khuyên can nhưng ông T bỏ mặc không quan tâm, không thay đổi. Tuy sống chung nhà nhưng khoảng 01 năm nay ông T thường xuyên vắng nhà, không hỏi han quan tâm gì tới các con; không ăn cơm chung với gia đình, vợ chồng không ngủ chung, thậm chí ngay cả khi bà bị tai nạn giao thông ông T cũng không về chăm sóc, giúp đỡ. Tình cảm vợ chồng rạn nứt nghiêm trọng và không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho bà và ông Phạm Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016. Từ trước đến nay các con vẫn chủ yếu do bà K chăm lo, hiện bà K làm nghề buôn bán tự do, thu nhập hàng tháng khoảng 15.000.000đ, có thể đảm bảo cuộc sống của bà và các con do đó bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con đến khi thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phạm Văn T có lời khai trình bày: ông T không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, do đó Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà K được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận; về con chung: đề nghị giao 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016 cho bà K tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung các đương sự khai không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Phạm Văn T; cư trú tại: Số E đường N, xã L, thành phố B. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2].Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về quan hệ hôn nhân:
Qua xác minh tại địa phương, lời khai của các bên đương sự thấy rằng: Bà Phạm Thị K và ông Phạm Văn T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật, quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống của vợ chồng khác nhau, ông T bỏ bê gia đình vợ con không quan tâm, tuy còn chung nhà nhưng mệnh ai người đó sống; mặc dù ông T không đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc thể hiện ý chí bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, bà K khẳng định không còn tình cảm với ông T, không thể tiếp tục chung sống. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K là có căn cứ và hợp pháp.
[4]. Về nuôi con chung: Bà K và ông T có 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016. Bà K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con; xét nguyện vọng của các con là ở với mẹ, bà K hiện có việc làm thu nhập ổn định có thể đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng các con; bị đơn ông Phạm Văn T không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng các con. Do đó xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016 cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên. Bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
[5]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
[6]. Về nợ chung, nợ riêng: Các đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.
[7]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 51 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị K và ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao 03 con chung tên Phạm Văn D, sinh ngày 07/10/2007; Phạm Văn H1, sinh ngày 18/10/2014; Phạm Minh T1, sinh ngày 13/05/2016 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên.
- Về án phí: Bà Phạm Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006146 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (Bà K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm).
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: pham thi khue - pham van thai
