Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-02-2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hùng.

Ông Cao Hoài Hiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 422/2024/TLST-HNGĐDS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kiên Thị R, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp G, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Tấn L, sinh năm: 1985. Địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và qua các lần làm việc, nguyên đơn chị Kiên Thị R trình bày: Chị và chồng chị là anh Trương Tấn L chung với nhau vào năm 2010, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 24-5-2013. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng gia đình chồng. Năm 2019, vợ chồng về quê chị ở tỉnh Trà Vinh sinh sống. Đến năm 2022, vợ chồng mâu thuẫn chị bỏ đi Bình Dương làm công nhân; chồng chị cùng các con về nhà cha mẹ chồng phường L, thị xã T sinh sống và vợ chồng ly thân cho đến nay.

Vợ chồng chung sống có 03 con chung gồm Trương Mỹ H, sinh ngày 01-8-2010, Trương Hạnh P, sinh ngày 02-5-2012 và Trương Bích T, sinh ngày 20-11-2014. Hiện các con đang sống chung với chồng chị.

Vợ chồng chung sống không có tài sản chung cũng như không có nợ chung.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8 năm 2022 thì phát sinh mâu thẫn. Nguyên nhân, vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng suy nghĩ trong sinh hoạt hàng ngày và bất đồng về kinh tế gia đình nên hay gây gỗ; chồng chị không lo làm ăn, có tiền thì đi đánh bạc; ngoài ra, chồng chị còn vũ phu nên hay đánh vợ con. Từ tháng 8 năm 2022 chị bỏ đi Bình Dương làm công nhân, chồng chị tìm đến nơi kiếm chuyện gỗ không cho chị làm, cùng thời gian này vợ chồng ly thân cho đến nay. Hiện vợ chồng mỗi người đều có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và không ai có thiện chí hàn gắn gia đình.

Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chồng chị.

Về con chung: Chị đồng ý giao cả 03 con chung cho chồng chị nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết

Bị đơn anh Trương Tấn L trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị R về vấn đề hôn nhân (vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn); về con chung (có 03 con chung chưa thành niên), về tài sản chung và về nợ chung (tất cả đều không có).

Theo anh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do: Năm 2022, lúc vợ chồng đang sống chung bên gia đình vợ, chị R tự ý bỏ nhà đi đến tỉnh Bình Dương làm công nhân. Anh phải dắt 03 con về nhà cha mẹ anh ở phường L, thị xã T sinh sống. Anh có 02 lần đến tỉnh Bình Dương tìm và kêu chị R về nhưng chị R không đồng ý. Từ đó, vợ chồng không gặp nhau mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau và không ai có thiện chí hàn gắn gia đình. Sau này anh được biết chị R đã sinh sống với người đàn ông khác và có con riêng với người này. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ anh là chị R.

Về con chung: Anh yêu cầu nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu chị R cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kiên Thị R đối với anh Trương Tấn L1. Về con chung giao 03 cho anh L1 nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh L1 không yêu cầu chị R cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Kiên Thị R và anh Trương Tấn L chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 24-5-2013 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị R có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.

Xét mâu thuẫn giữa anh chị thì thấy: Theo lời trình bày của chị R, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về kinh tế và trong sinh hoạt hàng ngày; anh L không lo làm ăn, có tiền thì đi đánh bạc và còn vũ phu hay đánh vợ con. Anh L2 thì cho rằng chị R đã chung sống và có con với người đàn ông khác. Anh chị ly thân từ tháng 8-2022 cho đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và không ai có thiện chí hàn gắn gia đình. Khi chị R có yêu cầu ly hôn, anh L2 chấp nhận. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị R đối với anh L2 là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Qua làm việc với 03 con chung của anh chị, các con đều có nguyện vọng được sống với cha là anh L2, điều này cũng phù hợp với lời trình bày của chị R và anh L2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp với các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí: Chị R chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về phí, lệ phí Tòa án:

1/. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kiên Thị R đối với anh Trương Tấn L. Chị R được ly hôn với anh L.

2/. Về con chung: Giao anh L được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 03 con chung gồm: Trương Mỹ H, sinh ngày 01-8-2010, Trương Hạnh P, sinh ngày 02-5-2012 và Trương Bích T, sinh ngày 20-11-2014. Ghi nhận anh L không yêu cầu chị R cấp dưỡng nuôi con.

Chị R có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4/. Về án phí: Chị Ry H1 chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000648 ngày 28-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Chị R đã nộp đủ án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện tx Trảng Bàng;
  • - CC THADS tx Trảng Bàng;
  • - UBND xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Vân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiên Thị Ry -Trương Tấn Linh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger