Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

---------------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Đặng Thị Thới

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hương

Ông Đặng Văn Miện

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 623/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lã Vĩnh N, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Số C Ngách E N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Bà Trần Thị Thùy V, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: Số H T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

(Ông N có đơn xin xét xử vắng mặt; bà V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn ông Lã Vĩnh N trình bày thì: ông và bà Trần Thị Thùy V kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND nhân dân P, thành phố Đ, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới thời gian đầu, vợ chồng sống chung với nhau ở Hàn Quốc một thời gian. Đến tháng 8/2022, vợ chồng về sinh sống tại Việt Nam. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/ 2023. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng của ông là được ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông N xác định, vợ chồng có 01 con chung là Lã Vân N1, sinh ngày 08/01/2018.

Khi ly hôn, ông N yêu cầu giao con chung cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông N đồng ý cấp dưỡng nuôi con 7.000.000đ/tháng (Bảy triệu đồng/tháng) cho đến khi cháu Ngọc thành N2.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị Thùy V trình bày:

bà và ông N kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND nhân dân P, thành phố Đ, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới thời gian đầu, ông bà sống chung với nhau ở Hàn Quốc một thời gian. Đến năm 2020, vợ chồng về Việt Nam sống tại số H T, Phường D, thành phố Đ, vợ chồng cũng sống tại Hà Nội một thời gian. Từ tháng 8/2023 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông N.

Về con chung: Bà V xác định, vợ chồng có 01 con chung là Lã Vân N1, sinh ngày 08/01/2018.

Khi ly hôn, bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên. Bà V yêu cầu ông N thực hiện cấp dưỡng nuôi con là 10.000.000đ/tháng (Mười triệu đồng/tháng) cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Lã Vĩnh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Trần Thị Thùy V vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên toà đã chấp hành đúng nội quy phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ông N và bà V được ly hôn; Về con chung, đề nghị giao cháu Lã Vân N1, sinh ngày 08/01/2018 cho bà Trần Thị Thùy V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ghi nhận mức cấp dưỡng nuôi con 7.000.000đ/tháng của ông N; Về tài sản chung và nợ chung, ông N và bà V xác định vợ chồng không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Lã Vĩnh N khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Trần Thị Thùy V, cư trú tại: Số H T, Phường D, thành phố Đ. Do vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là ông Lã Vĩnh N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Trần Thị Thùy V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: ông Lã Vĩnh N và bà Trần Thị Thùy V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/6/2017. Hôn nhân của vợ chồng đều trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Như vậy, hôn nhân giữa ông N và bà V là hợp pháp.

Về mâu thuẫn trong hôn nhân giữa ông N và bà V: Quá trình giải quyết vụ việc, ông N và bà V xác định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Hiện tại, cả ông N và bà V đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và hai bên tự nguyện ly hôn nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của ông N và bà V là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn:

Ông N và bà V xác định có 01 con chung là Lã Vân N1, sinh ngày 08/01/2018. Khi ly hôn, ông N và bà V thống nhất giao con chung bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên nên cần ghi nhận.

Đối với mức cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà V yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 10.000.000đ/tháng ( Mười triệu đồng/tháng) cho đến khi con chung thành niên. Ông Lã Vĩnh N đồng ý cấp dưỡng nuôi con 7.000.000đ/tháng (Bảy triệu đồng/tháng). Tiền cấp dưỡng nuôi con là chi phí được dùng cho việc nuôi dưỡng, học tập của con trong điều kiện sống bình thường và do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, bà V không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh chi phí cấp dưỡng nuôi là 10.000.000đ/tháng (Mười triệu đồng/tháng) nên không có cơ sở chấp nhận.

Đồng thời, xét việc tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông N với số tiền 7.000.000đ/tháng (Bảy triệu đồng/tháng) là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 7 - Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán nên cần ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà V xác định không có nên không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Ông Lã Vĩnh N và bà Trần Thị Thùy V mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Bên cạnh đó, ông N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm ba khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của ông Lã Vĩnh N và bà Trần Thị Thùy V.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:

    Về con chung: Giao con chung là Lã Vân N1, sinh ngày 08/01/2018 cho bà Trần Thị Thùy V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lã Vĩnh N về chi phí cấp dưỡng nuôi con chung, cụ thể: Ông Lã Vĩnh N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 7.000.000đ/tháng (Bảy triệu đồng/tháng) cho đến khi cháu Lã Vân Ngọc thành N2.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân năm 2015.
  5. Về án phí:
    • - Ông Lã Vĩnh N phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001138 ngày 30/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Ông Lã Vĩnh N còn phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
    • - Bà Trần Thị Thùy V phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
  7. Quyền thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS TP. Đà Lạt;
  • - UBND phường 4, thành phố Đà Lạt;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV-HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đặng Thị Thới

(đã ký và đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger