|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 04-3-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và Ông Phạm Hữu Ái
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử công khai vụ án thụ lý số 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn : Bà Đặng Thị Xuân T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn : Ông Lê Văn T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 10.9.2024 và lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, bà Đặng Thị Xuân T– nguyên đơn trình bày:
Sau quá trình tìm hiểu, bà T và ông Lê Văn T1 tự nguyện sống chung với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quá trình chung sống đã có 02 người con chung gồm là Lê Thanh D, sinh năm 2003 và Lê Thanh Tài N, sinh năm 2004. Hiện nay tất cả đều trưởng thành trên 18 tuổi.
Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không thấu hiểu nhau, thường xuyên cãi cọ làm không khí gia đình ngày càng ngột ngạt. Vợ chồng không còn tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau. Hiện vẫn cùng sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm với nhau, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nay bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn T1.
Về con chung : các con đã trưởng thành trên 18 tuổi quyền sống với ai do các con quyết định, bà T không yêu cầu.
Về tài sản chung : Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung : Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai ngày 01/11/2024 bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề nghị ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T, ông T1 đồng ý thống nhất.
Ông T1 có đơn xin vắng mặt tất cả các phiên họp công khai tài liệu chứng cứ, hòa giải và xét xử.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng pháp luật.
Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T. Bà Đặng Thị Xuân T được ly hôn với ông Lê Văn T1.
- - Về án phí: Bà Đặng Thị Xuân T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Xét yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị Xuân T và ông Lê Văn T1 là hôn nhân hợp pháp. Giữa bà T và ông T1 đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Nhưng trở về sau thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng hay tranh cãi nhau, không tôn trọng, không tin tưởng nhau. Tuy sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Ông T1 đồng ý ly hôn bà T. Điều đó chứng tỏ ông bà không tìm được giải pháp hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông bà đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: bà T và ông T1 có 02 con chung là Lê Thanh D, sinh năm 2003 và Lê Thanh Tài N, sinh năm 2004. Hiện nay tất cả đều trưởng thành trên 18 tuổi nên việc muốn sống với ai là quyền của các con. Bà T và ông T1 không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
- Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Đặng Thị Xuân T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1, 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 51, 53, 54, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Xuân T.
Bà Đặng Thị Xuân T được ly hôn với ông Lê Văn T1.
- Về án phí : Bà Đặng Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010969 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Bà Đặng Thị Xuân T đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Anh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ- ST ngày 04/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp ly hôn
