Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 01 - 2025.

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn và ông Bùi Văn Thiệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 232/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35C/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyếtđịnh hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1983. Địa chỉ: xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1987. Địa chỉ: xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị L trình bày: chị và anh Nguyễn Duy K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình ngày 03/3/2010. Cuộc sống chung sau khi kết hôn ban đầu có hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu này sinh từ năm 2020. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Nguyễn Duy K ngày càng bỏ bê gia đình, không quan tâm đến gia đình, vợ con, đi làm ăn xã về cũng không đưa tiền cho vợ con để lo cuộc sống gia đình. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát lẫn nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên nội, ngoại khuyên can, hoà giải nhưng không được mà ngày càng trầm trọng. Từ năm 2021 đến nay anh Nguyễn Duy K bỏ nhà đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà. Tình cảm vợ chồng không còn, chị Bùi Thị L thấy rằng không thể duy trì tình trạng hôn nhân như thế này với anh Nguyễn Duy K nữa nên nhất quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Duy K.

Về con chung: chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có 02 con chung là Nguyễn Bùi Duy K1, sinh ngày 29/3/2013 và Nguyễn Bùi Gia B, sinh ngày 15/9/2016. Hiện nay các con chung đang ở với chị Bùi Thị L. Khi ly hôn, chị Bùi Thị L nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và chưa yêu cầu anh Nguyễn Duy K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị Bùi Thị L khai là không có.

Về phía anh Nguyễn Duy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ nơi cư trú của anh Nguyễn Duy K thể hiện anh Nguyễn Duy K có địa chỉ rõ ràng; có đăng ký cư trú tại địa chỉ chị Bùi Thị L đã cung cấp cho Tòa án nhưng thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không ở một địa chỉ ổn định nên không lấy được ý kiến của anh Nguyễn Duy K. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.

Kết quả Tòa án xác minh, thể hiện: chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có mâu thuẫn; chị Bùi Thị L hiện chỉ sinh sống một mình cùng với hai con, anh Nguyễn Duy K thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Về con chung, nợ chung đúng như chị Bùi Thị L đã khai.

Toà án đã tiến hành lấy lời khai các con chung của chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K thể hiện các cháu Nguyễn Bùi Duy K1 và Nguyễn Bùi Gia B đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị Bùi Thị L.

Tại phiên tòa, chị Bùi Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về ly hôn, quyền và nghĩa vụ nuôi con chung sau ly hôn.

Phía đại diện Viện kiểm sát nhận định về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn có địa chỉ cư trú rõ ràng, đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có mâu thuẫn trầm trọng; không còn tình cảm vợ chồng; mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ly hôn. Về con chung hiện chị Bùi Thị L có đầy đủ điều kiện nuôi con, còn anh Nguyễn Duy K thu nhập, chỗ ở không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai con chung cho chị Bùi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc chị Bùi Thị L chưa yêu cầu anh Nguyễn Duy K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Duy K không có mặt tại Tòa án mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Nguyễn Duy K đúng như địa chỉ mà nguyên đơn đã cung cấp. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh Nguyễn Duy K. Do bị đơn đã được triệu họp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và nguyên đơn đề nghị không tiến hành hoà giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất nhưng vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm về độ tuổi cũng như những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống sau khi kết hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn đã được xác minh thể hiện vợ chồng chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K trong cuộc sống có nhiều mâu thuẫn, bất đồng với nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng anh Nguyễn Duy K bỏ bê, không quan tâm đến gia đình, vợ con; không chăm lo đến kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát lẫn nhau. Hiện nay anh Nguyễn Duy K bỏ đi làm ăn xa, ít về nhà; vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa mà bỏ mặc ai sống thế nào cũng được. Như vậy, chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K đã không còn thương yêu nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị L là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Xác nhận chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có 02 con chung là Nguyễn Bùi Duy K1, sinh ngày 29/3/2013 và Nguyễn Bùi Gia B, sinh ngày 15/9/2016. Hiện nay các con chung đang ở với chị Bùi Thị L. Khi ly hôn, chị Bùi Thị L nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét điều kiện nuôi con của cả hai bên thấy rằng: phía chị L có công việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định còn phía anh K hiện thường xuyên không sinh sống tại nơi cư trú, không quan tâm đến con cái. Mặt khác, các con chung của chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K đều có mong muốn được ở với chị Bùi Thị L. Do vậy, vì quyền lợi mọi mặt của trẻ em, Hội đồng xét xử xét cần giao cả hai con chung cho chị Bùi Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng phía chị Bùi Thị L chưa yêu cầu anh Nguyễn Duy K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là ý kiến tự nguyện của chị Bùi Thị L và không ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị L nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Bùi Thị L vẫn có quyền yêu cầu anh Nguyễn Duy K cấp dưỡng trong quá trình nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Duy K có quyền thăm nom con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung: Do chị Bùi Thị L khai là không có và việc anh Nguyễn Duy K vắng mặt nên Tòa án không lấy được ý kiến của anh K nên không có cơ sở xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp về tài sản chung và có yêu cầu thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ việc khác.

[5] Về nợ chung của vợ chồng: Xác định không có.

[6] Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Duy K.
  2. Về con chung: Chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Duy K có 02 con chung là Nguyễn Bùi Duy K1, sinh ngày 29/3/2013 và Nguyễn Bùi Gia B, sinh ngày 15/9/2016. Sau khi ly hôn, giao cả hai cháu là Nguyễn Bùi Duy K1 và Nguyễn Bùi Gia B cho chị Bùi Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Duy K chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Bùi Thị L chưa có yêu cầu. Anh Nguyễn Duy K có quyền thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Anh Nguyễn Duy K không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Bùi Thị L.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét.
  4. Về nợ chung của vợ chồng: Xác nhận không có.
  5. Án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002178 ngày 07/12/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn; chị Bùi Thị L đã nộp xong án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lạc Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn;
  • - UBND xã X – Lạc Sơn – Hoà Bình;
  • (Nơi đăng ký kết hôn ngày 03/3/2010)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Cao Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị L kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Duy K. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger