|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ - ST Ngày 20 - 3 - 2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đôn Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Nguyễn Văn Hảo
2. Nguyễn Quang Thái
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Đại - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy A, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện F, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Văn Thị Thanh C, Luật sư công ty Luật TNHH Youth & Partners thuộc đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc B, sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (hiện đang chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca, tỉnh Yên Bái), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thúy A trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 17/4/2018. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2020, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B chơi bời, không trí thú làm ăn dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Chị và anh B đã sống ly thân từ đầu năm 2021. Hiện nay anh Nguyễn Quốc B đang đi chấp hành án tại trại giam Hồng Ca, tỉnh Yên Bái. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B. Về con chung: Chị và anh B có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 12/10/2019. Chị A đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Quốc B trình bày: Anh thừa nhận thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị Nguyễn Thúy A trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo anh B là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do anh phạm tội phải đi chấp hành án tại trại giam Hồng Ca. Quá trình chấp hành án, chị A ít khi đến trại giam thăm nom anh. Đến nay anh xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, chị A xin ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh chị. Về con chung: Anh B xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 12/10/2019. Ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức và các vấn đề khác: Anh B cũng không đề nghị Tòa án giải quyết. Do hiện nay anh B đang phải chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca, tỉnh Yên Bái nên không thể tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử. Anh B đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt tại Tòa án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thúy A, cho chị A được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết. Ngoài ra còn đề nghị về án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Chị A có đơn đề nghị ly hôn anh B và giải quyết về vấn đề con chung, do vậy xác định quan hệ tranh chấp là “Hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án chị A, anh B đều có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy A và anh Nguyễn Quốc B lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nên chị A, anh B là vợ chồng hợp pháp.
Căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định: Mâu thuẫn của chị A, anh B bắt đầu phát sinh từ năm 2020. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trong khoảng thời gian dài nhưng cả hai bên đều không có giải pháp gì để về đoàn tụ. Vợ chồng không còn quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy có đủ cơ sở để xác định: Tình trạng hôn nhân giữa chị A, anh B đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần cho chị A và anh B ly hôn.
Về con chung: Chị A, anh B đều xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 12/10/2019. Cháu Khang hiện đang ở cùng chị A. Chị A, anh B đều có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Hiện nay anh B đang phải chấp hành án tại trại giam nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cháu Minh Khang cần giao cho chị A nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị Nguyễn Thúy A và anh Nguyễn Quốc B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thúy A được ly hôn anh Nguyễn Quốc B.
Về con chung: Chị Nguyễn Thúy A được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 12/10/2019. Anh Nguyễn Quốc B không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thúy A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002678 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Thời hạn kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đôn Minh Tiến |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn An |
Nguyễn Thị Thu Hiền |
|
Bùi Thị Bích Liên |
Bản án số 07/2025/HNGĐ - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ
