TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-12-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Lò Văn Chiên
2. Ông Đèo Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mào Thị H, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Bản B, xã T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Bị đơn: Anh Lò Văn H1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Bản M, xã S, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn chị Mào Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn H1 về chung sống với nhau từ năm 2014 nhưng đến ngày 31/8/2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P nay là xã S, tỉnh Lai Châu. Khi kết hôn anh chị hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị thường xuyên cãi nhau, anh H không quan tâm đến chị và không hỗ trợ công việc gia đình, thường xuyên xúc phạm chị. Chị đã sống ly thân với anh H1 từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân anh H1 không quan tâm đến chị và các con. Chị chị xét thấy tình cảm không còn với anh H1 nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H1.
- Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là Lò Văn Minh V, sinh ngày 15/5/2016 và Lò Tú U, sinh ngày 27/10/2020. Từ khi sống ly thân các con ở cùng chị và do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không quan tâm đến các con. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, anh Lò Văn H1 mặc dù biết chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ đến Tòa để làm việc nhưng cố tình vắng mặt mà không có lý do. Anh H1 có mặt tại phiên tòa xác nhận về thời điểm chung sống, đăng ký kết hôn và con chung như chị H đã nêu là đúng. Anh cho rằng do anh phải thường xuyên đi làm ăn xa nên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc vợ và các con. Vì vậy, anh nhất trí ly hôn với chị H và nhất trí giao các con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu; về chia tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải nhưng không có mặt là vi phạm về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mào Thị H và xem xét quyết định: Chị H được ly hôn với anh H1; giao 02 con chung Lò Văn Minh V, sinh ngày 15/5/2016 và Lò Tú U, sinh ngày 27/10/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung và chia tài sản chung do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét; miễn án phí cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Anh Lò Văn H1 có nơi cư trú tại bản M, xã S, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu. Chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 03/12/2025, Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên đã hoãn phiên tòa. Phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mào Thị H và anh Lò Văn H1 về chung sống với nhau từ năm 2014 và đăng ký kết hôn ngày 31/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P nay là xã S, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị H và anh H1 hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp. Quá trình chung sống chị H và anh H1 không hạnh phúc, đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 do hai vợ chồng không còn quan tâm và thương yêu nhau. Chị H xin ly hôn với và anh H1 nhất trí. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 cũng đã kéo dài, giữa chị H và anh H1 không còn dành sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1 là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3] Về con chung: Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con chung trưởng thành. Con chung Lò Văn Minh V trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với mẹ. Anh H1 nhất trí giao 02 con chung cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giao 02 con chung Lò Văn Minh V, sinh ngày 15/5/2016 và Lò Tú U, sinh ngày 27/10/2020 cho chị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành là phù hợp.
- [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh H1 nhất trí nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5] Về chia tài sản chung: Chị H, anh H1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về án phí: Chị Mào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Mào Thị H được ly hôn với anh Lò Văn H1.
- Về con chung: Giao con chung Lò Văn Minh V, sinh ngày 15/5/2016 và Lò Tú U, sinh ngày 27/10/2020 cho chị Mào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Lò Văn H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Mào Thị H không yêu cầu anh Lò Văn H1 phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung và anh H1 nhất trí nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung: Chị Mào Thị H và anh Lò Văn H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Mào Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000167 ngày 09/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Lai Châu nay chuyển thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
