|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/3/2025 V/v: "ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phú Anh Lân.
- Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan –Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2024 về việc "ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐHNGĐ-ST ngày 26/02/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Trương Quỳnh G –sinh năm 2000.
(có đơn xin xét xử vắng mặt).
HKTT: xóm Bãi Cải, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện ở: thôn Vạn Phước, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Bị đơn: Ông Lê Thanh L – sinh năm 1990 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Trương Quỳnh G trình bày: Bà và ông Lê Thanh L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào năm 2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở huyện N, tỉnh Ninh Thuận khoảng 06 tháng, sau đó chuyển về huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sinh sống và làm việc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng từ giữa năm 2022 thường xảy ra cải vã do bất đồng quan điểm sống. Sau đó, ông L bỏ về thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận sinh sống; còn bà và con vẫn ở lại Thái Nguyên. Năm 2024, bà có vào lại thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận gặp gỡ ông L để hàn gắn lại tình cảm, nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: có 01 con chung tên Lê Quỳnh T–sinh ngày 05/7/2018. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Bị đơn ông Lê Thanh L: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.
Lời khai ông Lê Đức T1-là cha ruột của bị đơn Lê Thanh L cho biết: Năm 2017, con trai tên Lê Thanh L lấy vợ là Trương Quỳnh G, có chung một người con tên Lê Quỳnh T. Mấy năm đầu vợ chồng L-G thường đi làm ăn xa, hai năm gần đây L-G mới về sống cùng với gia đình ông tại thôn V-xã P-N-Ninh Thuận. Vợ chồng G-L đi làm từ sớm, đến chiều tối mới về đến nhà. Gần đây ông có nhận được các thông báo, giấy báo triệu tập của Tòa án huyện N gửi cho L, ông có thông báo cho L biết nhưng L không chịu lên Tòa giải quyết vụ việc ly hôn với G. Theo ông vợ chồng G-Lam tuy có xảy ra to tiếng với nhau nhưng chưa đến mức phải ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật.
Chính quyền địa phương thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông Lê Thanh L và bà Trương Quỳnh G cùng chung sống xác nhận: ông L và bà G là vợ chồng nhưng chung sống không hợp nhau. Hiện vợ chồng G-L đang sống cùng với cha mẹ L tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Trương Quỳnh G được ly hôn với ông Lê Thanh L. Về con chung có 01 người con nên giao cho bà G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí ly hôn sơ thẩm bà G phải chịu theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Quỳnh G có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Lê Thanh L, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đối với bị đơn ông Lê Thanh L vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Quỳnh G và ông Lê Thanh L tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 65/2018, ngày 14/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T-huyện Đ-tỉnh Thái Nguyên, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng G-L có sự xác nhận của chính quyền địa phương.
Xét thấy, hôn nhân của giữa bà G và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.
[3] Về con chung: Bà Trương Quỳnh G và ông Lê Thanh L có 01 người con chung tên Lê Quỳnh T–sinh ngày 05/7/2018. Khi ly hôn bà G yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông L vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà G.
Xét yêu cầu nuôi con của bà G là cần thiết để đảm bảo cho con gái phát triển được tốt, vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Quỳnh G không yêu cầu, nên HĐXX không xét.
[5] Về án phí: Bà Trương Quỳnh G phải chịu án phí theo pháp luật.
[6] Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Bà Trương Quỳnh G được ly hôn với ông Lê Thanh L.
- Về con chung: Bà Trương Quỳnh G có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung tên Lê Quỳnh T (nữ)-sinh ngày 05/7/2018. Ông Lê Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trương Quỳnh G không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Trương Quỳnh G phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004714 ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận. Bà Trương Quỳnh G đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
