TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/02/2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thùy Dương
Ông Đặng Trần Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Hoàng A – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 792/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Lê Nhã T, sinh năm: 1992; Cư trú tại: 266/2/4 T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
Bị đơn: Ông Đặng Văn P, sinh năm: 1989; Cư trú tại: Ô Lô A H, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Lê Nhã T trình bày: Bà và ông Đặng Văn P tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 28/3/2016. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã và cuộc sống trở nên nặng nề. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay bà không còn tình cảm với ông P nên xin ly hôn.
Về con chung: Bà và ông P có 01 con chung là cháu Đặng Minh A1, sinh ngày: 11/8/2016. Nguyện vọng của bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A. Bà yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, bị ông Đặng Văn P trình bày: Ông P thống nhất với lời trình bày của bà Trương Lê Nhã T về thời gian kết hôn và nơi đăng ký kết hôn, cũng như về mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, ông muốn được hàn gắn gia đình vì thương vợ con nên không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là cháu Đặng Minh A1, sinh ngày: 11/8/2016. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, ông đồng ý giao cháu A1 cho bà T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi..
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm:
Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trương Lê Nhã T được ly hôn với ông Đặng Văn P. Về con chung: Giao 01 con chung là Đặng Minh A1, sinh ngày: 11/8/2016 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ tháng kể từ tháng 11/2024 đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa giải quyết.
Về án phí: Bà Trương Lê Nhã T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Đặng Văn P phải chịu án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Đặng Văn P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207; khoản 1, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Trương Lê Nhã T và ông Đặng Văn P tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố N vào ngày 28/3/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa bà T và ông P không hạnh phúc do có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã và cuộc sống trở nên nặng nề. Bà T và ông P đã không sống chung với nhau từ tháng 9/2023 cho đến nay. Hơn nữa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt chứng tỏ ông không muốn hàn gắn gia đình.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp và thỏa đáng.
[3] Về con chung: Bà T và ông P có 01 con chung là cháu Đặng Minh A1, sinh ngày: 11/8/2016. Khi ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A. Xét yêu cầu của bà T về việc nuôi dưỡng cháu A1 hiện còn nhỏ nên cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ và ông P cũng thống nhất giao cháu cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ tháng, bắt đầu từ tháng 11/2024 vào ngày 20 hàng tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do đó, cần tiếp tục giao cháu A1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông P không yêu cầu tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Trương Lê Nhã T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Đặng Văn P phải chịu án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con chung.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, khoản 1, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Lê Nhã T ly hôn với ông Đặng Văn P.
Về con chung: Giao cháu Đặng Minh A1, sinh ngày: 11/8/2016 cho bà Trương Lê Nhã T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Đặng Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền: 3.000.000 đồng/ tháng, bắt đầu từ tháng 11/2024 vào ngày 20 hàng tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông P không yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông P phải nộp 300.000đ án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con. Bà Trương Lê Nhã T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002901 ngày 18 tháng 09 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời gian thanh toán.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Trang; - Chi cục THADS thành phố Nha Trang; - UBND xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang (Giấy KH số 25 ngày 28/3/2016). - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Đăng Thanh |
Thành viên hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Thùy Dương – Đặng Trần Khoa | Nguyễn Hữu Đăng Thanh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 792/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Trương Lê Nhã T, sinh năm: 1992; Cư trú tại: 266/2/4 T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt. Bị đơn: Ông Đặng Văn P, sinh năm: 1989; Cư trú tại: Ô Lô A H, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
