Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11 tháng 02 năm 2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hường;

2. Ông Đinh Thế Cần.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hà Ngọc L, sinh năm 1992

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị V, sinh năm 1992

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(anh L có mặt, chị V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn anh Hà Ngọc L có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị V tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/02/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q một thời gian ngắn sau đó chuyển lên làm ăn sinh sống tại xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Cuộc sống hạnh phúc, hòa thuận đến tháng 11/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị V không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị V.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 và Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020, hiện con chung đang ở cùng anh và ông bà nội tại thôn Đ, xã Q. Ly hôn anh L đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh L làm việc tại công ty S thu nhập 01 tháng là 18.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, các biên bản làm việc chị Vũ Thị V trình bày: Chị xác định về thời gian, điều kiện hoàn cảnh kết hôn như anh Hà Ngọc L đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà ngoại tại thôn Đ, xã Q, huyện Q sau đó đi làm công nhân tại tỉnh Thái Nguyên đến tháng 02/2024 vợ chồng chuyển về Bắc Ninh làm ăn, sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh L có biểu hiện quan hệ nam nữ vào tháng 4/2024, hiện vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay anh L có đơn xin ly hôn, chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L vẫn còn, chị đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu anh L kiên quyết xin ly hôn thì chị cũng nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 và Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020, hiện các con chung đang ở cùng anh L và ông bà nội tại xã Q, huyện Q. Ly hôn chị V đề nghị được nuôi cháu H để anh L nuôi cháu H1; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Nếu không thỏa thuận được chị V đề nghị giao 02 con chung cho anh L nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị không có thai nghén gì, chị đang làm việc lao động tự do thu nhập 01 tháng là 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh với gia đình chị V thể hiện: Anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng đi làm tại công ty. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có xích mích mâu thuẫn, chị V đã về gia đình sinh sống tại xã Q từ tháng 11/2024 cho đến nay, hiện vợ chồng sống ly thân. Nay anh L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh L và chị V có 02 con chung là Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 và Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020, hiện con chung đang ở cùng anh L và ông bà nội. Ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của các bên. Về tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo thỏa thuận của anh, chị. Hiện chị V đang ở cùng gia đình, chị vẻ làm tại Công ty ở Hải Phòng sáng đi, tối về.

Tại biên bản xác minh với gia đình anh L (bà Vũ Thị H2 là mẹ đẻ anh L) thể hiện: Anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q vào ngày 23/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng đi làm tại công ty. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có xích mích mâu thuẫn, chị V đã về gia đình sinh sống tại xã Q từ tháng 11/2024 cho đến nay, hiện vợ chồng sống ly thân. Nay anh L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh L và chị V có 02 con chung là Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 và Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020, hiện con chung đang ở cùng anh L và gia đình bà. Ly hôn bà đề nghị giao 02 con chung cho anh L nuôi dưỡng vì năm 2022 thì khi anh L, chị V đi làm 02 con chung ở cùng ông bà Ngoại tại xã Q, 02 cháu bị tăng động không biết nói, cháu H nói ngọng chậm phát triển, bà H2 đã bỏ việc ở miền nam về chăm sóc các cháu. Gia đình có điều kiện về chỗ ở và chăm sóc các cháu. Về tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo thỏa thuận của anh L, chị V.

Tại biên bản xác minh với trường tiểu học xã Q thể hiện: Anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V là vợ chồng. Cháu Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 là con chung của anh L, chị V. Hiện cháu H đang học lớp 1A4, cháu H nói chậm tiếp thu ở mức độ trung bình, tính tình ngoan ngoãn chăm chỉ, ý thức tốt. Mọi công việc đóng góp họp phụ huynh đều do bà nội cháu huy thực hiện.

Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn Đ, xã Q; cơ sở thôn Đ, xã Q, cán bộ tư pháp xã Q, xã Q huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 23/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q một thời gian ngắn thì đi lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp. Hiện nay anh L và chị V đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay anh L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh L và chị V có 02 con chung, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật Tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Ngọc L được ly hôn chị Vũ Thị V; Về con chung: giao cho anh Hà Ngọc L trực tiếp nuôi 02 con H, sinh ngày 20/4/2018; Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020; chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị V như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng chị V vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của anh L, chị V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/02/2018 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc anh L đề nghị ly hôn chị V không đồng ý ly hôn nhưng chị V cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh L, chị V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L, xử cho anh L được ly hôn chị V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Anh Hà Ngọc L và chị Vũ Thị V có 02 con chung là Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018 và Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020. Ly hôn anh L, chị V thống nhất giao 02 con chung cho anh L được nuôi dưỡng, chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của anh L là chính đáng, anh L có công việc, thu nhập ổn định. Ngoài ra, 02 con chung đang ở cùng anh L và gia đình anh L, được chăm sóc chu đáo. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Hà Ngọc L trực tiếp nuôi 02 con chung Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018; Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020; chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hà Ngọc L, chị Vũ Thị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Hà Ngọc L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Ngọc L được ly hôn chị Vũ Thị V.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Hà Ngọc L trực tiếp nuôi 02 con chung Hà Quốc H, sinh ngày 20/4/2018; Hà Thu H1, sinh ngày 20/02/2020; chị Vũ Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Hà Ngọc L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh L đã nộp theo Biên lai thu số 0004883 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Hà Ngọc L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 11/02/2025). Chị Vũ Thị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh L và chị V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger