|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 4 năm 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Thới
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc và bà Nguyễn Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Hoàng Q, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Trương Hoàng Q trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và chị Hà Thị N tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/4/2018. Hai vợ chồng cùng chung sống tại đại phương và có 01 người con. Năm 2020 vì điều kiện kinh tế khó khăn nên hai vợ chồng gửi con cho ông bà nội để đinh Bình Dương làm ăn và sinh sống. Từ đó hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Tháng 4/2021 vì không thể hòa hợp trong vấn đề hôn nhân nên hai vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Hà Thị N
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Trương Hoàng Ngọc T, sinh ngày 24/8/2018. Hiện nay con đang ở với tôi cùng ông bà nội, do đó tôi yêu cầu giải quyết được nuôi con cho đến khi thành niên, không yêu cầu chị N cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Hà Thị N có nơi cư trú tại: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án một cách hợp lệ cho chị N. Chị Hà Thị N đã biết việc anh Trương Hoàng Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng Nhớ không cung cấp bản tự khai, không đến Tòa án để làm việc và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa lần thứ hai chị N cũng vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến phiên tòa theo Giấy triệu tập.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho anh Trương Hoàng Q ly hôn với chị Hà Thị N
Về con chung: Giao 01 con chung là Trương Hoàng Ngọc T, sinh ngày 24/8/2018 cho anh Trương Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội; buộc anh Trương Hoàng Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Anh Trương Hoàng Q khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Hà Thị N có nơi cư trú tại: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Hà Thị N không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Nguyên đơn anh Trương Hoàng Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Anh Trương Hoàng Q và chị Hà Thị N đăng ký kết hôn ngày 02/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống anh Trương Hoàng Q và chị Hà Thị N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung thường xuyên cãi vã. Anh Q và chị N đã không chung sống với nhau trong thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Trương Hoàng Q thấy rằng tình yêu giữa hai người đã hết cố gắng níu kéo chung sống với nhau càng làm đau khổ cho nhau, do vậy anh kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn để yên tâm làm ăn nuôi dạy con cái.
Tại biên bản xác minh ngày 05/11/2024 tại Thôn T xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai cho thấy: Chị Hà Thị N là vợ anh Trương Hoàng Q cư trú tại thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Hai bên có 01 con chung, đến năm 2020, chị N để con ở nhà cho ông bà nội rồi đi làm. Thời điểm đó anh Q và chị N đã ly thân, thỉnh thoảng có thấy chị N về thăm con. Như vậy, giữa anh Trương Hoàng Q và chị Hà Thị N đã không chung sống với nhau trong thời gian dài, tình cảm hai người không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho anh Q được ly hôn với chị N để ổn định cuộc sống nuôi con.
- Về con chung: Anh Trương Hoàng Q và chị Hà Thị N có 01 con chung là Trương Hoàng Ngọc T, sinh ngày 24/8/2018. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con và hiện T đang ở với anh Q, chị N thường xuyên đi làm xa không đảm bảo điều kiện nuôi con. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho anh Trương Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trương Hoàng Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trương Hoàng Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Anh Trương Hoàng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Hoàng Q
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Hoàng Q được ly hôn với chị Hà Thị N
- Về con chung: Giao 01 con chung là Trường H, sinh ngày 24/8/2018 cho anh Trương Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi), hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Anh Trương Hoàng Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009056, ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Phạm Bá Thới |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về con chung
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Hoàng Quyết 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Hoàng Quyết được ly hôn với chị Hà Thị Nhớ 2. Về con chung: Giao 01 con chung là Trường Hoàng Ngọc Tâm, sinh ngày 24/8/2018 cho anh Trương Hoàng Quyết trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con thành niên