Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày 08/4/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Công Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cảnh Ái; 2. Ông Nguyễn Kim Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Háo tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Vân – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST- HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/3/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - Sinh năm: 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Quách Công V - Sinh năm: 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 6 năm 2024 và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, chị Phạm Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Quách Công V kết hôn với nhau năm 2014, có Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/6/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Dù đã được hai bên gia đình nội ngoại hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vẫn không thay đổi, vợ chồng vẫn sống ly thân từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm, chăm sóc gia đình chung. Đến nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Quách Công V để anh chị chấm dứt tình trạng hôn nhân này.

- Về con chung: Chị và anh Quách Công V không ai có con riêng và cũng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.

- Về tài sản và nghĩa vụ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên toà hôm nay:

- Nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn đề nghị và xin xét xử vắng mặt, trong đơn chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn là anh Quách Công V vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng cho anh V biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, do anh V không muốn ly hôn với chị H nên đã cố tình trốn tránh, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án để làm việc theo quy định. Tòa án đã nhiều lần về địa phương nơi anh V cư trú phối hợp cùng Ban quản lý thôn 12 và UBND xã X tống đạt, cũng như niêm yết các Văn bản tố tụng theo quy định cho anh V biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ án này nhưng anh V vẫn vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc với Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày nào.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi các đương sự đang cư trú, sinh sống để có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Ban Q và UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cung cấp như sau:

- Về tình trạng cư trú: Chị Phạm Thị H và anh Quách Công V là vợ chồng, kết hôn với nhau vào năm 2014. Tuy nhiên, năm 2015 anh chị đã sống ly thân nhau, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa cư trú và sinh sống từ đó cho đến nay; còn anh Quách Công V là công dân xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và hiện nay đang có Hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Tòa án đã nhiều lần về tại gia đình anh Quách Công V để tiến hành tống đạt, cũng như niêm yết các loại văn bản tố tụng cho anh V, gồm: Thông báo thụ lý vụ án số 96/2024/TLST- HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024; Giấy triệu tập đương sự và nhiều loại Văn bản tố tụng khác liên quan đến vụ án. Tại thời điểm tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 96/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024 thì anh V vẫn có mặt ở nhà và đã nhận, cũng như đã đọc Văn bản tố tụng nêu trên nhưng do anh V không muốn ly hôn với chị H nên đã không ký vào các biên bản giao nhận của Tòa án. Đến nay anh V đã bỏ nhà đi khỏi địa phương nhằm trốn tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do anh V làm công việc tự do, nay đây mai đó, đi về bất thường, khi đi không thông báo cho gia đình hoặc chính quyền địa phương biết địa chỉ cụ thể và cũng không rõ thời gian trở về. Vì vậy, Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương thôn A, xã X, huyện N niêm yết toàn bộ Văn bản tố tụng tại gia đình anh V cũng như tại UBND xã X để làm cơ sở giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng chung. Theo địa phương nắm được, anh V vẫn thường xuyên về thăm nhà và biết được nội dung yêu cầu khởi kiện “Ly hôn” của chị H đối với anh nhưng do anh V không muốn ly hôn với chị H nên đã cố tình dấu địa chỉ để trốn tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do đó, anh V không đến Tòa án làm việc theo quy định; không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về hôn nhân: Chi Phạm Thị H và anh Quách Công V kết hôn với nhau năm 2014, có Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/6/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì xay ra mâu thuẫn nên chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa cư trú và sinh sống từ năm 2015, từ đó đến nay anh chị sống ly thân nhau không ai quan tâm, chăm sóc gia đình chung, hiện nay chị H và anh V không còn chung sống với nhau. Vì vậy, quan điểm của địa phương là đề nghị Tóa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nếu xét thấy vợ chồng không thể quay về đoàn tụ thì nên thống nhất cho anh chị ly hôn để giải thoát cho nhau.

- Về con chung: Chi Phạm Thị H và anh Quách Công V không có con chung nên địa phương không có ý kiến gì khác.

- Về tài sản và nghĩa vụ chung: Do chi Phạm Thị H và anh Quách Công V không yêu cầu nên địa phương cũng không có ý kiến gì khác.

Phần tranh luận:

- Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên không có tranh luận gì.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ tất các văn bản tố tụng theo quy định; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ; thời hạn chuẩn bị xét xử và việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 97, 195, 196, 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử vụ án theo Điều 51, 63 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 76 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn là anh Quách Công V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc theo quy định. Tòa án đã nhiều lần phối hợp cùng chính quyền địa phương nơi anh V cư trú tống đạt, cũng như niêm yết các loại văn bản tố tụng để đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho anh V. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay anh V vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do lần thứ hai là vi phạm Điều 70, 72 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy việc Tòa án căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy chị H và anh V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên được coi là vợ chồng hợp pháp. Hiện nay chị H không còn tình cảm với anh V, mâu thuẫn đã trầm trọng, đã sống ly thân nên không có khả năng đoàn tụ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Quách Công V; Về con chung: Giữa chị Phạm Thị H và anh Quách Công V không ai có con riêng và cũng không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về tài sản và nghĩa vụ chung: Trong vụ án này các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và nghe các đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa giải quyết ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Quách Công V có địa chỉ cư trú tại thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và nhiều loại Văn bản tố tụng khác liên quan đến vụ án cho các bên đương sự nhưng bị đơn anh Quách Công V không có mặt tại Tòa án để làm việc theo quy định. Mặt khác, nguyên đơn là chị Phạm Thị H đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Tại phiên toà chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Quách Công V vắng mặt không có lý do. Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành tống đạt, cũng như niêm yết hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho anh V để tham gia phiên toà theo quy định nhưng anh V vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh V.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Quách Công V trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N theo Giấy đăng ký kết hôn số 28/2014, ngày 30/6/2014, nên xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, từ năm 2015 chị H và anh V nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng nên chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa cư trú, sinh sống và vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên giữa chị H và anh V không biết tôn trọng nhau, để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi, dẫn đến hiện tại vợ chồng đã phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Đối với anh V, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, cũng như triệu tập hợp lệ anh V đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó đồng nghĩa với việc anh V không có thiện chí để Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ. Đến nay chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh V, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H, đồng ý cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Quách Công V.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị H và anh Quách Công V không ai có con riêng và cũng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về quan hệ tài sản và nghĩa vụ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, điểm a và b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Quách Công V.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Quách Công V không ai có con riêng và cũng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005816, ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân. Như vậy, chị H đã nộp đủ tiền án phí; Anh Quách Công V không phải chịu án phí theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Quy định tại các điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Xuân Bình, huyện Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ;

T T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Công Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ giữa chị Phạm Thị H và anh Quách Công V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger