|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 04/04/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quí .
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Khánh Phượng.
- Bà Nguyễn Thị Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 486/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Â, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Bà T vắng mặt có đơn xin vắng mặt, ông  vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 11 năm 2024, các tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hữu  kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện S (nay là phường X, thị xã S), tỉnh Phú Yên vào ngày 23/01/2008. Quá trình chung sống, bà và ông  chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông  thường xuyên bỏ đi xa, ít có thời gian gần gũi chung sống với nhau, bà đã nhiều lần liên lạc ông  về để vợ chồng hàn gắn tình cảm chung sống với nhau nhưng ông  vẫn không chịu về mà bỏ mặc mẹ con bà và bà tự nuôi con một mình. Từ năm 2019 đến nay, bà và ông  đã sống ly thân, không ai quan tâm gì đến nhau nữa. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông  đã mâu thuẫn trầm trọng, bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Â.
- - Về con chung: Bà và ông  có 01 con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 22/11/2007. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu  vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án, không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý đơn, giải quyết vụ án, Thẩm phán đã làm đúng theo quy định của pháp luật; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng mối quan hệ tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo đúng thành phần Hội đồng xét xử, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, điều hành phiên tòa đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông  vắng mặt lần thứ hai không phải vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông  đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T được ly hôn ông Â. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu P, sinh ngày 22/11/2007 cho bà T nuôi dưỡng, ông  không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Thanh T có đơn khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" đối với ông Nguyễn Hữu Â, sinh năm 1982; có địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Hữu  vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T và ông Nguyễn Hữu  kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND UBND thị trấn S, huyện S (nay là phường X, thị xã S), tỉnh Phú Yên vào ngày 23/01/2008 nên hôn nhân của bà T và ông  là hợp pháp. Theo bà T trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông  thường xuyên bỏ nhà đi xa, ít có thời gian gần gũi chung sống với nhau, bà đã nhiều lần liên lạc và khuyên ông  về để hàn gắn, chung sống với nhau nhưng ông  vẫn không chịu về mà bỏ mặc mẹ con bà và bà tự nuôi con một mình. Từ năm 2019 đến nay, bà và ông  đã sống ly thân, không ai quan tâm gì đến nhau nữa. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà T, ông  không đến Tòa án để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không có đơn yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ và không đến tham gia phiên tòa. Điều này thể hiện ông  không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa ông và bà T. Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án cho ông Â, nhưng ông  không đến Tòa án để làm việc, hòa giải; chứng tỏ ông  không còn tình cảm vợ chồng với bà T. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông  đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Hữu Â.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông  có 01 con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 22/11/2007. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi cháu P, không yêu cầu ông  phải cấp dưỡng nuôi con. Bà T trình bày, từ trước đến nay cháu P luôn ở cùng với bà, hiện nay bà T đang làm kinh doanh tự do, thu nhập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng nên đảm bảo cho việc nuôi con; hiện nay cháu P đang học lớp 12 tại Trường Trung học phổ thông P1, thị xã S, tỉnh Phú Yên và có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông  không đến Tòa án để trình bày hay yêu cầu về việc nuôi con, chứng tỏ ông  không có nguyện vọng được nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống và quyền lợi phát triển toàn diện cho cháu P, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông  không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình.
[2.3] Về tài sản chung: Bà T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài nợ chung: Bà T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim Thanh T và ông Nguyễn Hữu Â.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu P, sinh ngày 22/11/2007 cho bà Nguyễn Thị Kim Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; ông Nguyễn Hữu  không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003862 ngày 03/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quí |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
