Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM SÁCH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/4/2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Lan Phương và ông Lê Quang Hoàng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025; tại Nhà văn hóa khu N1, TT N, huyện N, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2024 về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 06 ngày 28/3/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988;
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương;
  • Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.
  • Người được chị B ủy quyền: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu N, TT N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (ủy quyền về giao nhận tài liệu ngày 16/12/2024)
  • Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương;

Đều vắng mặt

- Người làm chứng:

  • Ông Trần Văn V1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị G, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
  • Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị B trình bày:

Chị và anh Trần Văn V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là xã T) ngày 16/11/2009. Sau khi kết hôn, chị và anh V cùng nhau sinh sống tại nhà bố mẹ chồng tại thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chị và anh V chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng khoảng 01 năm trở lại đây, anh chị không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm để tiếp tục xây dựng cuộc sống hôn nhân. Đời sống hôn nhân của anh chị rơi vào trạng thái bế tắc, không thể hàn gắn. Anh chị đã ly thân và chị về nhà bố mẹ đẻ ở xã A sinh sống. Gia đình hai bên đã nhiều lần can thiệp giúp vợ chồng chúng tôi hàn gắn cuộc hôn nhân nhưng chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là cháu Trần Trà M, sinh ngày 19/12/2010 và cháu Trần Mạnh N, sinh ngày 14/02/2012. Cả hai cháu đang sinh sống với bố và ông bà nội, khi ly hôn chị nhất trí để anh V tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu và chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng/con. Nếu các con xin ở với chị, chị nhất trí và tự nguyện không yêu cầu V cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang ở với mẹ đẻ, nhà cửa rộng rãi đủ để mẹ con chị sinh sống. Chị sẽ đi làm ăn xa để hy vọng sau này thay đổi cuộc sống cho chị và các con. Chị sẽ nhờ mẹ chị là bà Nguyễn Thị Đ chăm sóc nuôi dưỡng các con giúp chị

Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai anh V trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh

bệnh tật, kinh tế khó khăn dẫn đến lạnh nhạt với chị. Kể từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Hôm sang cát bố đẻ chị B, anh có đến và có uống rượu say. Anh không có ý đập phá hay làm hư hỏng xe ô tô mà anh muốn tự về nhà, lúc say có thể đạp cửa làm hỏng xe. Khi vợ chồng ly thân chị B không hề hỏi thăm, không gọi điện hỏi thăm anh và gia đình. Chỉ thi thoảng liên lạc với con qua máy điện thoại của bố anh. Nay chị B kiên quyết ly hôn, anh xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể hàn gắn nên nhất trí ly hôn.

Về con chung: Hiện 02 con chung là Trần Trà M và Trần Mạnh N đang ở với anh. Anh có nguyện vọng nuôi cả hai con. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị B tự nguyện cấp dưỡng, anh không đưa ra mức cấp dưỡng. Chị B tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng/01 con, anh nhất trí. Các con đang ở với anh ở nhà ông bà nội, nhà cửa rộng rãi, sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi. Bố mẹ anh cho ở lâu dài.

Về tài sản, nợ, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh phải đi khám bệnh, không có nhà nên không thể đến Tòa án làm việc được. Anh không đến Tòa án làm việc, xét xử. Đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt anh

- Chị Nguyễn Thị C đại diện theo ủy quyền (là chị gái của chị Nguyễn Thị B) trình bày: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như nguyên đơn đã trình bày. Năm 2017, hai vợ chồng chị B anh V sang Đài Loan làm ăn kinh tế và cũng là để thay đổi môi trường sống. Anh V về nước năm 2021 còn chị B về nước năm 2024. Hiện đã sống ly thân. Do không ở được với anh V nên chị B về nhà bố mẹ chị ở thôn A, xã A sinh sống. Nay chị B xin ly hôn quan điểm của chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để chị B sớm ổn định cuộc sống. Chị chứng kiến, hôm bốc mộ bố đẻ chị ngày 25/11/2024, anh V sang ăn sau đó do uống quá nhiều rượu say, chửi bới linh tinh, xúc phạm mọi người trong đám giỗ rồi chạy ra đường để về thì mọi người đuổi theo ngăn lại. Do sợ tai nạn nên gia đình chị đã thuê xe để chở anh V về. Sau khi lên xe anh V đạp gẫy kính ô tô của họ buộc gia đình chị và chị B phải đền cho chủ ô tô.

Chị B ủy quyền cho chị nộp cho Tòa án và nhận tài liệu, bản án, quyết định giải quyết vụ việc ly hôn do Tòa án giao gửi, thay mặt chị B quyết định các vấn đề liên quan đến vụ án cho đến khi vụ án được giải quyết xong.

- Lời khai của bà Nguyễn Thị Đ (là mẹ đẻ của chị B) thể hiện: Chị B xin ly hôn quan điểm của bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để chị B sớm ổn định cuộc sống. Trước đó, mẹ chồng của chị B là bà Trần Thị G có xuống nói chuyện với bà về việc vợ chồng xích mích với nhau rồi mâu thuẫn trong chuyện tiền

nong, kinh tế, nói xấu chị B. Khi anh V về nước năm 2021, ông bà thông gia và anh V không cho các cháu con của chị B, anh V về thăm bà, ngăn cản gặp gỡ bà ngoại. Các con chung của chị B và anh V là Trần Trà M và Trần Mạnh N hiện đang ở cùng bố và ông bà nội. Khi ly hôn các cháu có nguyện vọng ở với ai bà cũng nhất trí. Nếu cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Nguyễn Thị B thì bà nhất trí cho mẹ con chị B ở nhà bà, nhà bà rộng rãi đủ để mẹ con chị B ở. Bà sẽ chăm sóc các cháu khi chị B đi làm.

- Lời khai của ông Trần Văn V1 và bà Trần Thị G (là bố mẹ đẻ của anh V) thể hiện: Năm 2017, anh V và chị B sang Đài Loan lao động được 04 năm thì anh V về do loãng xương. Từ năm 2022 về nước đến nay, anh V tập trung chữa bệnh, không làm được việc nặng, không lao động bình thường được. Tháng 10/2024, chị B về nước. Ông bà không biết vợ chồng có mâu thuẫn gì nhưng chị B về nhà ông bà thăm con xong lại về nhà ông bà ngoại sinh sống ở thôn A, xã A. Gia đình hai bên đã nói chuyện vun vén để vợ chồng về với nhau nhưng chị B vẫn không quay về. Nay chị B xin ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Hiện 02 con chung là Trần Hà M1 và Trần Mạnh N đang ở với anh V và ông bà từ bé đến nay. Nếu hai cháu có nguyện vọng ở với bố ông bà nhất trí và để bố con anh V tiếp tục ở nhà ông bà lâu dài. Nhà ông bà nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát rộng rãi. Ông bà làm nông nghiệp, có thời gian phụ giúp gia đình anh V trong việc nuôi hai con, đưa các cháu đi học nếu anh V cần.

- Biên bản lấy lời khai của các con chị B, anh V thể hiện: Hiện các cháu đang ở cùng bố Trần Văn V và ông bà nội. Khi ly hôn các cháu đều có nguyện vọng tiếp tục ở với bố.

- Biên bản xác minh tại UBND xã A thể hiện: Chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn V có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND xã N nay là xã T. Quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn với nhau thế nào UBND xã không nắm được. Khi làm đơn ly hôn, chị B không yêu cầu hòa giải tại cơ sở nên nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn là gì, chỉ biết hiện tại anh V và 02 con đang ở nhà bố mẹ đẻ ở A, còn chị B đã về nhà bố mẹ đẻ ở A, hai bên không còn qua lại. Việc anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Chị B, chị C và anh V vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của pháp luật. Bị

đơn không chấp hành quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2024/NQ-HĐTP; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B: Xử cho chị Nguyễn Thị B ly hôn anh Trần Văn V; Về con chung: Giao hai con chung là cháu Trần Trà M, sinh ngày 19/12/2010 và Trần Mạnh N sinh ngày 14/02/2012 cho anh Trần Văn V tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chấp nhận sự tự nguyện của chị B cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng/ con (02 con = 4.000.000đ/tháng); Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Chị B còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị B có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách giải quyết việc hôn nhân của chị với anh Trần Văn V; Anh V có hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Quá trình giải quyết vụ án, anh V đã được Tòa án tống đạt các văn bản như thông báo, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho anh V, người thân của anh V tuy nhiên anh V đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập cho anh V nhưng anh V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do; chị B ủy quyền cho chị C, chị C có đơn đề nghị vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là

phù hợp với quy định tại Điều 227, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào ngày 16/11/2009. Sau khi kết hôn, chị B và anh V cùng nhau sinh sống tại nhà bố mẹ chồng tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Như vậy, việc kết hôn giữa chị B và anh V là hợp pháp và được Nhà nước công nhận. Vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng. Chị B trình bày vợ chồng mâu thuẫn nhau trong làm ăn kinh tế, anh V tính nóng, cục cằn, hay rượu chè. Chị buộc phải về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng ly thân đã lâu. Anh V xác định chị B sống lạnh nhạt, không quan tâm hỏi han gì đến anh và gia đình. Anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân; chị B xin ly hôn anh V nhất trí ly hôn. Như vậy, mối quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh V đã không còn hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và hiện anh chị đã sống ly thân nên HĐXX xét thấy cần giải quyết cho chị B được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Trần Trà M, sinh ngày 19/12/2010 và Trần Mạnh N sinh ngày 14/02/2012, hiện các cháu vẫn đang ở với bố và ông bà nội. Cháu M và N đều có nguyện vọng muốn tiếp tục được sống với anh V. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho 2 con, HĐXX xét thấy cần giao cháu Trần Trà M và Trần Mạnh N cho anh Trần Văn V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chấp nhận sự tự nguyện của chị B cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng/con tức cấp dưỡng 02 con = 4.000.000đ/tháng phù hợp với quy định tại các Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình

Về tài sản chung, nợ chung: Chị B và anh V không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị B xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000 đồng và chị B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Chị B còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2024/NQ-HĐTP; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B

  • Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Trần Văn V
  • Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Trà M, sinh ngày 19/12/2010 và Trần Mạnh N sinh ngày 14/02/2012 cho anh Trần Văn V tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các con tròn 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Chị B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/con (02 con chung =4.000.000 đồng/tháng) kể từ tháng 4/2025 đến khi các con tròn18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác

Chị B được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật anh V có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà chị B không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.

  • Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình hai bên: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000306 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách ngày 10/12/2024. Chị B còn phải nộp 300.000đ.

Chị B, anh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Sách;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Sách;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Trần Phú (trước là xã Nam Chính), huyện Nam Sách;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị B - Trần Văn V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger