Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 04/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nguyên; ông Nguyễn Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 233/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QÐST - HNGĐ ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1991 – có mặt

Nơi ĐKHKTT: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Nơi đăng ký tạm trú: Số A, phố H, phường Q, thị xã S - Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992 – vắng mặt

Địa chỉ: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang cai nghiện tại Đội 1 Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, lời khai tại Tòa án và tại phiên toà chị Phạm Thị X khai: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 27/12/2012. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì, sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì hai bên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên bỏ nhà đi chơi bạn bè, cờ bạc, rất nhiều lần chị khuyên can, tha thứ nhưng anh H vẫn chứng nào tật ấy. Đến năm 2018 anh H phải đi cai nghiện bắt buộc, sau khi về nhà chị đã cho anh H nhiều cơ hội để thay đổi nhưng chỉ được vài tháng ngoan ngoãn rồi lại tiếp tục chơi bời. Đến 20/4/2020 anh H lại bị công an bắt do tàng trữ ma túy và bị phạt 18 tháng tù đến 20/10/2021 thì ra trại. Sau thời gian cải tạo về anh H vẫn không thay đổi và nhiều lần cãi nhau với chị, điển hình đến 19/3/2024 anh H bị bắt đi cai nghiện 16 tháng tại đội 1 Cơ sở cai nghiện ma túy số 7. Nhận thấy vợ chồng không có tiếng nói chung, tình cảm không còn, xung đột vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và vợ chồng đã sống ly thân nhau nhiều lần nên chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh H để mẹ con chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 05/11/2012; Nguyễn Quốc C, sinh ngày 06/6/2014; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 02/5/2016. Khi ly hôn chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 3 con, tôi không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về công nợ chung: Không có

Anh Nguyễn Văn H tại bản tự khai trình bày: Anh và chị Phạm Thị X đăng ký kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng chung sống với nhau 13 năm, tỉnh cảm vợ chồng vẫn hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Tháng 3/2024 anh phải đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số G Hà Nội. Nay chị X làm đơn xin ly hôn anh không nhất trí. Về con chung, tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: anh H không đưa ra ý kiến gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn H hiện đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 nên không thể đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được nên vụ án phải đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, chị X yêu cầu xin ly hôn anh H và được nuôi cả 03 con, về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung không có; nợ chung và khoản cho vay không có.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị X, cho chị X được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 05/11/2012; Nguyễn Quốc C, sinh ngày 06/6/2014; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 02/5/2016 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết

Về quyền thăm nom con: Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị X, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

-Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Chị X xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Về sự có mặt của đương sự: Đối với anh Nguyễn Văn H đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn H.

[2].Về nội dung: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2012 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận hạnh phúc một thời gian ngắn, sau đó anh H sử dụng ma túy và liên tục phải đi cai nghiện bắt buộc và chấp hành án phạt tù về tội danh liên quan đến chất ma túy, đây chính là nguyên nhân chính dẫn đến việc vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị X và anh H tình trạng mâu thuẫn đã kéo dài, nguyên nhân việc mâu thuẫn chủ yếu là do anh H, vợ chồng đã sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị X, cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn H là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 05/11/2012; Nguyễn Quốc C, sinh ngày 06/6/2014; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 02/5/2016. Quá trình giải quyết phía chị X có nguyện vọng được nuôi con, anh H không đưa ra ý kiến gì. HĐXX thấy, từ khi ly thân chị X là người trực tiếp nuôi con, hiện chị có thu nhập và chỗ ở ổn định, nguyện vọng của ba con là mong muốn khi Tòa án giải quyết ly hôn thì cho các con được ở với mẹ; Anh H hiện đang đi cai nghiện ma túy nên trước mắt chưa thể có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị X, giao cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng cả 3 cháu là phù hợp với thực tế và Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị X không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Chị X xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; Hai bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, Điều 35; Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, uy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị X, cho chị X được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 05/11/2012; Nguyễn Quốc C, sinh ngày 06/6/2014; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 02/5/2016 cho đến khi các con tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

  4. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hội đồng xét xử không giải quyết.
  5. Về án phí. Chị Phạm Thị X phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp sang - Biên lai số 0001677, ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

Án xử công khai sơ thẩm, Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Đào Xá;
  • - Lưu hồ sơ + VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN HỒNG MÂY

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ - ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger