Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 20/3/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân

- Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch

Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Thu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 75/2024/HNGĐ-ST ngày: 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 24/2025/QĐ-PT ngày 12/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lương N, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng C (V) chi nhánh L3-Phòng Giao dịch huyện Đ. Do ông Lê Đình N1, sinh năm 1980. Chức vụ Phó Giám đốc phụ trách đại diện theo uỷ quyền tại Quyết định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/09/2019 của Tổng giám đốc N5.

      Ông Lê Đình N1 uỷ quyền lại cho ông Lâm Văn H, sinh năm 1977. Chức vụ Phó Giám đốc NHCSXH (V) chi nhánh L3-Phòng Giao dịch huyện Đ. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

    2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm B, Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
    3. Chị Nguyễn Thị Hồng N2, sinh ngày 20.2.2004; Địa chỉ liên hệ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Do có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-HN ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lương N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào năm 1997, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục tập quán, hôn nhân do hai bên tự nguyện. Quá trình sống chung sống, thời gian đầu cuộc sống tuy có mâu thuẫn nhưng không đáng kể vợ chồng tự dàn xếp chung sống hòa thuận. Tuy nhiên từ năm 2005 đến tháng 07/2022 thì xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên, chồng bà đánh đập, chửi bới và ngoại tình với người phụ nữ khác. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống và quan điểm sống, không thể tìm được tiếng nói chung, không có sự tin tưởng lẫn nhau. Bà đã nhiều lần nói chuyện, khuyên bảo ông T để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được. Vợ chồng cãi vã ngày càng nhiều, đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân. Hiện nay bà đã cùng các con rời khỏi nhà, không còn chung sống với ông T.

Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc như mong muốn, tiếp tục kéo dài chỉ khiến cả hai mệt mỏi và ảnh hưởng rất lớn tới con cái. Do đó bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng bà có ba (03) con chung là: Nguyễn Thị Bích P, sinh ngày 16/03/1999; Nguyễn Thị Thu N3, sinh ngày 05/03/2001; Nguyễn Thị Hồng N2, sinh ngày 20/02/2004.

Các con chung đều đã trưởng thành và phát triển bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung như sau:

Thửa đất số 757, tờ bản đồ số 40, diện tích 369m² tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Thửa đất đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N. Trên đất có 01 căn nhà cấp bốn diện tích khoảng 100m2. Nhà đất hiện ông T đang quản lý, sử dụng.

Thửa đất diện tích khoảng 9.096,5m² tại khoảnh 5, tiểu khu F, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tọa độ là X: 1282573.648 và Y: 558974.704. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có trồng cây cà phê, hiện ông T đang quản lý sử dụng và thu hoạch cà phê mấy năm nay.

Ngoài ra vợ chồng còn có nhà đất tại thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nguồn gốc đất là nhà chồng cho nhưng chưa sang tên, vợ chồng đã làm nhà trên đất sinh sống từ năm 2000 tới năm 2004 thì chuyển xuống Ninh Gia . Tuy nhiên nhà đất này bà không tranh chấp.

Đối với thửa đất diện tích khoảng 9.096,5m² tại khoảnh 5, tiểu khu F, xã N Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có trồng cây cà phê. Nay bà rút yêu cầu không chia tài sản chung đối với thửa đất này.

Đối với tài sản sản chung bà yêu cầu chia như sau;

Giao thửa đất số 757, tờ bản đồ số 40, diện tích 369m² tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và tài sản trên đất (nhà cấp 4) cho bà trực tiếp quản lý, sử dụng vì hiện tại bà và 03 đứa con chưa có nhà ở. Bà thanh toán cho ông Thành phần chênh lệch giá trị theo chứng thư thẩm định giá số 029/2024/FMA-LĐ do Công ty TNHH T2 giá Năm thành viên thực hiện: 1.435.290.085,67 đồng + căn nhà cấp bốn trên đất trị giá 265.642.589,67 đồng. Tổng giá trị nhà + đất là 1.700.932.000₫.

Về nợ chung:

Nợ Ngân hàng C (V) chi nhánh L3 – phòng G số tiền 102.580.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).

Nợ bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Số tiền vay này vợ chồng bà sử dụng để đóng tiền trọ và tiền học từ tháng 10/2022 đến tháng 5/2023 với tổng số tiền là 20.290.000 đồng và sử dụng số tiền còn lại để đóng học phí cho con Nguyễn Thị Hồng N2 hiện là sinh viên Trường Đại học C1.

Bà L sử dụng số tài khoản 0501000063140 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N6 (V1) và số tài khoản 863425 mở tại Ngân hàng Q (MB) để chuyển tiền vay vào số tài khoản 5402205428107 mở tại Ngân hàng N7 (A) của con Nguyễn Thị Hồng N2.

Ly hôn, bà đề nghị chia đôi số nợ trên, bà có trách nhiệm trả một nửa số nợ, ông T có trách nhiệm trả một nửa số nợ với số tiền là 88.790.000 đồng (T1 mươi tám triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Bà nhận trách nhiệm trả hết các khoản nợ, trừ vào phần sẽ thanh toán cho ông T.

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định, thẩm định giá là 31.000.000₫ (Ba mươi mốt triệu đồng). Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng quen biết, tìm hiểu. Sau đó đi đến kết hôn năm 1997, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại nhà chồng thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi đang sinh sống ở B, H thì mẹ ông có cho 01 căn nhà cấp 4 trên đất của cha mẹ ông và 01 mảnh vườn diện tích 2.099m² và 06 ô đất ruộng đều đứng tên Nguyễn Văn T. Sau đó vợ ông có xích mích với mẹ ông nên vợ ông rủ ông xuống Đ, Ninh G sinh sống. Vì thương vợ nên ông nghe vợ năm 2004 cầm cố sổ đỏ cho Ngân hàng P1 và bán đất ruộng để về Đ sinh sống cho tới nay.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ ông tự ý bỏ đi, ông có đi tìm nhưng không được. Khi đi bà N có cầm 01 sổ đỏ và giấy tờ quan trọng và tiền vàng tài sản chung mang đi. Nay bà N xin ly hôn, ông không đồng ý, ông còn thương vợ và mong muốn cùng vợ nuôi con đến bờ bến.

Về con chung: Vợ chồng ông có ba (03) con chung là: Nguyễn Thị Bích P, sinh ngày 16/03/1999; Nguyễn Thị Hồng N4, sinh ngày 05/03/2001; Nguyễn Thị Hồng N2, sinh ngày 20/02/2004. Các con đều đã đủ tuổi trưởng thành ở với ai do con chung tự quyết định.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày hiện các tài sản chung là đúng:

Thửa đất số 757, tờ bản đồ số 40, diện tích 369m² tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Thửa đất đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N. Trên đất có 01 căn nhà cấp bốn diện tích khoảng 100m². Nhà đất hiện ông đang quản lý, sử dụng.

Thửa đất diện tích khoảng 9.096,5m² tại khoảnh 5, tiểu khu F, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tọa độ là X: 1282573.648 và Y: 558974.704. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có trồng cây cà phê, hiện ông đang quản lý, sử dụng. Nguồn gốc tài sản từ bố mẹ ông cho nên ông không đồng ý chia cho bà N. Bà N cứ về ở ông không đồng ý chia.

Về nợ chung:

Nợ Ngân hàng C (V) chi nhánh L3 – phòng G số tiền 102.580.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).

Nợ bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).

Đối với hai khoản nợ trên bà N tự vay ông không biết đến nên ông không đồng ý trả nợ. Nếu bà N quay về, tiếp tục chung sống thì ông mới trả nợ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Bà có cho bà Nguyễn Thị Lương N mượn 75.000.000đ cho bà chi trả việc học phí và sinh hoạt cho con cái học hành, thời gian vay mượn tháng 9 năm 2022. Vì bà N là dì ruột của bà nên trong quá trình vay mượn bà không yêu cầu bà N viết giấy. Khoản nợ vay mượn bà mong muốn được vợ chồng bà N và ông T trả lại cho bà. Có sao kê tiền chuyển khoản.

Việc cho mượn được chuyển khoản từ số tài khoản 0501000063140 tên chủ tài khoản là Nguyễn Thị Kim L qua số tài khoản 5402205428107 của Nguyễn Thị Hồng N2 con của bà Nguyễn Thị Lương N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C, tỉnh Lâm Đồng do ông Lâm Văn H đại diện trình bày:

Ngày 16/11/2018 vay chương trình Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cho sinh viên Nguyễn Thị Bích P theo thế ước nhận nợ số 6600000714056240, hiện còn dư nợ với số tiền 52.500.000 đồng, hạn trả ngày 16/05/2027, tiền lãi tính đến ngày 24/05/2024 là 28.476 đồng; Ngày 16/01/2020 vay chương trình Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cho sinh viên Nguyễn Thị Thu N3 theo thế ước nhận nợ số 6600000716963696, hiện còn dư nợ với số tiền 50.000.000 đồng, hạn trả ngày 16/10/2027, tiền lãi tính đến ngày 24/05/2024 là 27.124 đồng. Tổng nợ vay hiện tại đến hết ngày 24/05/2024 là 102.555.600 đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm đồng). Trong đó tiền gốc 102.500.000 đồng và tiền lãi là: 55.600 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà N chịu trách nhiệm trả hết khoản nợ này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng N2 trình bày bày; Chị là con gái của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Lương N.

Tháng 7/2022 mẹ chị là bà N và bố chị là ông T đã sống ly thân với nhau, khi đó chị đang thuê trọ ở dưới Thành phố Hồ Chí Minh nên bà N xuống ở cùng với chị. Chị là sinh viên năm nhất của Trường đại học công nghệ thành phố C1.

Khi đó chị là sinh viên và mẹ chị thì đi làm thuê, thu nhập không ổn định, không có đủ tiền chi trả học phí của chị và chi phí sinh hoạt, tiền trọ của hai mẹ con. Do đó trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023 mẹ chị (Nữ) có nhiều lần vay tiền của chị Nguyễn Thị Kim L để chị đóng học phí cũng như chi phí sinh hoạt, chị L là cháu ruột của mẹ N.

Ngày 19/9/2022 chị L chuyển khoản cho chị 16.000.000 đồng; Ngày 10/12/2022 chuyển khoản 23.000.000 đồng; Ngày 19/4/2023 chuyển khoản 36.000.000 đồng.

Tổng số tiền chị L đã chuyển khoản cho chị là 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Chị L sử dụng số tài khoản 0501000063140 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N6 (V1) và số tài khoản 863425 mở tại Ngân hàng Q (MB) để chuyển tiền vay vào số tài khoản 5402205428107 mở tại Ngân hàng N8 (A) của chị Nguyễn Thị Hồng N2.

Toàn bộ số tiền này chị đã sử dụng để đóng học phí, ngoài ra mẹ chị là bà N đưa thêm tiền cho chị để chị đóng học, trả tiền trọ và chi phí sinh hoạt ăn ở của hai mẹ con.

Ngày 20/9/2022 chị chuyển tiền nộp học phí là 15.215.000 đồng; Ngày 27/12/2022 chuyển tiền học phí là 24.705.000đ; Ngày 18/5/2023 chị nộp học phí là 6.190.000đ; Ngày 18/7/2023 chị nộp học phí là 31.227.000₫.

Số tiền này là học phí của năm học 2022-2023 và học phí của năm học 2023-2024.

Toàn bộ tiền chi phí học hành, ăn, ở, sinh hoạt của hai mẹ con chị là do mẹ chị đi làm thuê và vay của chị Nguyễn Thị Kim L. Bố chị (ông Nguyễn Văn T) không cho chị tiền và cũng không nhờ ai gửi tiền cho chị.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 75/2024/HNGĐ-ST n gày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, đã xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lương N được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  2. Về tài sản chung:
    • Đình chỉ giải quyết đối với diện tích đất 9.096,5m² tại khoảnh 5, tiểu khu F, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tọa độ là X: 1282573.648 và Y: 558974.704.
    • Xác định thửa đất số 757/369m², tờ bản đồ số 40, tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N cùng căn nhà cấp bốn trên đất là tài sản chung của ông T bà N tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.
    • Chia cho bà N được nhận thửa đất số 757/369m², tờ bản đồ số 40 và căn nhà trên đất tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N. Bà N có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.
    • Chia cho ông Nguyễn Văn T ½ giá trị tài sản chung là 746.188.537₫ (Bảy trăm bốn mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám ngàn năm trăm ba mươi bảy đồng) do bà Nguyễn Thị Lương N thanh toán.
  3. Về nợ chung: Bà N có trách nhiệm thanh toán số nợ 102.555.600đ cho Ngân hàng C (V) chi nhánh L3-Phòng Giao dịch huyện Đ và thanh toán số nợ 75.000.000đ cho bà Nguyễn Thị Kim L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 30/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-HN ngày 30/7/2024 về việc kháng nghị một phần bản án và đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 về phần chi phí tố tụng và án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lương N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C chi nhánh L3 – Phòng giao dịch huyện Đ, bà Nguyễn Thị Kim L và chị Nguyễn Thị Hồng N2 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, không kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày không đồng ý với Bản án sơ thẩm nhưng do không biết nên không kháng cáo. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, sửa bản án sơ thẩm đối với phần chi phí tố tụng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân, về tài sản chung và nợ chung: Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

[2] Xét Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng về việc kháng nghị một phần bản án và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo hướng sửa bản án Hôn nhân gia đình số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 về phần chi phí tố tụng và án phí:

[2.1] Về chi phí tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền 31.000.000₫ bà N nộp tạm ứng để xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là chi phí cần thiết cho việc giải quyết vụ án nên ông T và bà N mỗi người phải chịu ½. Ông T có trách nhiệm thanh toán lại cho bà N 15.500.000₫ là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm trừ số tiền chi phí tố tụng bà N phải chịu vào phần bà N cần thanh toán cho ông T và không tuyên phần chi phí tố tụng tại phần Quyết định của Bản án là thiếu sót, không đúng theo quy định.

Do đó, cần xác định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng tại phần Quyết định của Bản án như sau: Số tiền 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu đồng) bà N nộp tạm ứng để xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là chi phí cần thiết cho việc giải quyết vụ án buộc mỗi người phải chịu ½ chi phí tố tụng. Buộc ông T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà N 15.500.000₫.

Về phần tài sản chung, bà Nguyễn Thị Lương N có trách nhiệm thanh toán cho ông T số tiền [1.700.932.675,34₫ – (102.555.600 đồng + 75.000.000₫)]/2= 761,688,537 đ (Bảy trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi tám đồng).

[2.2] Về án phí:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Nguyễn Thị Lương N và ông Nguyễn Văn T, mỗi người phải chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm trên tổng giá trị tài sản chung và nợ chung, cụ thể;

Tài sản chung trị giá 1.700.932.675,344đ = 63.027.980đ án phí

Nợ chung: 102.555.600đ + 75.000.000đ = 177.555.600đ = 8.877.780đ án phí.

Tổng cộng án phí: 63.027.980đ + 8.877.780₫ = 71.905.760đ/2= 35.952.880₫

Việc Tòa án sơ thẩm xác định án phí như trên là không đúng theo quy định tại Điểm b mục 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Cần phải xác định lại án phí dân sự sơ thẩm của ông T, bà N trong vụ án này như sau:

Tài sản ông T, bà N mỗi người được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ: (1.700.932.675,34-177.555.600)/2=761.688.537₫

Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản chung là: 20.000.000₫ + 4% (761.688.537-400.000.000) = 34.467.541₫.

Án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ là: (177.555.600đ/2) x 5%= 4.438.890₫

Như vậy, tổng cộng tiền án phí dân sự sơ thẩm ông T, bà N mỗi người phải chịu là 34.467.541 + 4.438.890₫ = 38.906.461₫.

[2.3] Đối với yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thi Kim L1 có yêu cầu độc lập: yêu cầu bà N, ông T trả cho bà số tiền 75.000.000 đồng. Ngày 08/5/2024, bà L1 nộp tạm ứng án phí số tiền 1.875.000₫ theo biên lai thu số 0003874 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng.

Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L1 nhưng chưa giải quyết đối với số tiền tạm ứng án phí bà L1 đã nộp là không đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L2. Do đó cần phải tuyên trong phần Quyết định, về án phí: “Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 1.875.000đ theo biên lai số 0003874 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng".

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-HN ngày 30/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng; sửa Bản án hôn Hôn nhân gia đình số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng về phần chi phí tố tụng và án phí như phân tích nêu trên.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng nghị số 05/QĐ-VKS-HN ngày 30/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng. Sửa bản án số Hôn nhân gia đình số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng về phần án phí và chi phí tố tụng.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lương N được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  2. Về tài sản chung:
    • Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia diện tích đất 9.096,5m² tại khoảnh 5, tiểu khu F, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tọa độ là X: 1282573.648 và Y: 558974.704 của bà Nguyễn Thị Lương N.
    • Xác định thửa đất số 757/369m², tờ bản đồ số 40, tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N cùng căn nhà cấp bốn trên đất là tài sản chung của ông T bà N.
    • Chia cho bà N được quyền sử dụng thửa đất số 757/369m², tờ bản đồ số 40 và sở hữu căn nhà trên đất tại thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 436930 ngày 08/07/2005 đứng tên người sử dụng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Lương N. Bà N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn T 761,688,537 đ (B trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi tám đồng) tương ứng ½ giá trị chia tài sản chung.

    Bà N có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cập nhật biến động sang tên tên theo quy định của pháp luật.

    Chia cho ông Nguyễn Văn T ½ giá trị tài sản chung là 761,688,537 đ (Bảy trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi tám đồng) do bà Nguyễn Thị Lương N thanh toán.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

  3. Về nợ chung: Bà N có trách nhiệm thanh toán số nợ 102.555.600đ cho Ngân hàng C (V) chi nhánh L3 - Phòng Giao dịch huyện Đ và thanh toán số nợ 75.000.000đ cho bà Nguyễn Thị Kim L.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán cho bà N số tiền 15.500.000đ (Mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng).
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lương N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình và án phí dân sự sơ thẩm là 38.906.461₫ (Ba mươi tám triệu chín trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm sáu mươi mốt đồng), được khấu trừ vào 6.550.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014436 ngày 21 tháng 06 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Bà N còn phải nộp thêm 32.356.461 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi mốt đồng).

    Ông Nguyễn Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 38.906.461₫ (Ba mươi tám triệu chín trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm sáu mươi mốt đồng).

    Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 1.875.000đ (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai số 0003874 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC;
  • - VKSND tỉnh LĐ;
  • - TAND huyện Đức Trọng (02);
  • - Chi cục THADS huyện Đức Trọng;
  • - Phòng TTr,KT &THA;
  • - Các đương sự (5);
  • - Lưu AV – HS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng và án phí
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger