|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 07/2025/HNGĐ-PT Ngày 02 tháng 4 năm 2025 “V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng;
Bà Lê Thị Thu Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Kiều Văn Đ - sinh năm 1967
Địa chỉ: Số B, B đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ,
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ: Bà Tô Thị Phương D, sinh năm 1986 và bà Phạm Thị Phương T, sinh năm 1989 – Công ty L1 – Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, tòa C, Vincom T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
Bị đơn và là người có yêu cầu phản tố: Bà Nguyễn Thị Thu H - sinh năm 1969
Địa chỉ: Số B, B đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ,
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Ông Nguyễn Bá L – Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh B
Địa chỉ: Khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
1
Người đại diện: Bà Đặng Thị Bích H1 – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B,
2. Ngân hàng thương mại cổ phần N1 – Chi nhánh B;
Địa chỉ: Số A, đường T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
Người đại diện: Ông Nguyễn Ngọc T1 – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần N1 – Chi nhánh B.
3. Anh Kiều Văn T2 – sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Ông Đ, bà T, bà H, ông L có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Kiều Văn Đ - là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Kiều Văn Đ và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ trình bày:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 15/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Đ trình bày: ông và bà H kết hôn ngày 11/01/1992 tại UBND phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn bất đồng không thể hòa giải, nhất là về kinh tế. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng đã gây dựng khối tài sản chung, ông yêu cầu vợ chồng phân chia khối tài sản chung đó để hai bên chủ động về kinh tế, nhưng hai bên không thể thỏa thuận được với nhau, nên ông yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng theo yêu cầu của ông.
Quá trình giải quyết vụ án ông đã yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định định giá nhiều tài sản, nhưng đến ngày 05/7/2024, ông Đ có quan điểm chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ gồm 12 thửa đất và tài sản trên đất, đều do hai vợ chồng đứng tên chủ sử dụng là Kiều Văn Đ và Nguyễn Thị Thu H, ông cam kết các tài sản này đều là tài sản chung của vợ chồng, không thế chấp, chưa chuyển nhượng cho ai, gồm:
- Thửa đất số 871, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,75m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 872, tờ bản đồ số 35, diện tích 96,75m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 873, tờ bản đồ số 35, diện tích 92,25m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 874, tờ bản đồ số 35, diện tích 101,25m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 855, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,0m², địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V.
2
- Thửa đất số 856, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,0m², địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 857, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,0m², địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 858, tờ bản đồ số 35, diện tích 88,6m², địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, diện tích 413,7m², địa chỉ: khu B, xã T, C, tỉnh Phú Thọ.
- Thửa đất số 54-1, tờ bản đồ số 41, diện tích 551m², địa chỉ: khu F, xã V, V.
- Thửa đất số 255, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.164m², địa chỉ: khu A, xã K, V.
- Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, diện tích 160m², địa chỉ: NV17, L10, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
Còn các tài sản do con cháu đứng tên, 04 thửa đất do bà H đứng tên do ông ủy quyền và tài sản của Công ty TNHH T4 là công ty gia đình do ông sáng lập và đã ủy quyền cho bà H làm Giám đốc ông chưa đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà H trình bày:
Đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông Đ, bà cũng xác định các tài sản chung của vợ chồng đề nghị chia gồm quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đều thuộc quyền sử dụng của hai vợ chồng, không thế chấp, không chuyển nhượng cho ai, nay ông Đ yêu cầu chia các tài sản nêu trên quan điểm của bà đồng ý chia, nhưng bà yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung là quyền sử dụng đất do vợ chồng cùng đứng tên chủ sử dụng và tài sản trên đất, gồm 18 tài sản là 18 quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, trong đó bà đồng ý chia 12 tài sản theo yêu cầu của ông Đ bà bổ sung thêm 6 tài sản sau:
- Thửa đất số 861, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,48m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 862, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m², địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 184, tờ bản đồ số 13, diện tích 94,4m², địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13, diện tích 104,3m², địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 225, tờ bản đồ số 12, diện tích 94,6m², địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V.
- Thửa đất số 386, tờ bản đồ số 33, diện tích 285m², địa chỉ: khu A, xã K, thành phố V, tên chủ sử dụng là ông Kiều Văn T2 là cháu ruột ông Đ đứng tên hộ, bà xác định đó cũng là tài sản chung của vợ chồng để chia.
Đối với tài sản là quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình là thửa đất số 184, 185, đều ở tờ bản đồ số 13, địa chỉ khu G, phường N, thành phố V là tài sản chung
3
của vợ chồng bà mua năm 1997, thời điểm đó hộ gia đình gồm vợ chồng và con chung Kiều Hồng P, sinh ngày 11/01/1993, thời điểm này con chung còn nhỏ không có công sức đóng góp gì.
Về nguyện vọng nhận tài sản của ông Đ: ông xin được sử dụng sở hữu tài sản là 02 thửa đất số 873, 874 tờ bản đồ số 35, địa chỉ đều ở băng A, đường N, phường N; 04 thửa đất số 855, 856, 857, 858, tờ bản đồ số 35, địa chỉ đều ở băng B, đường N, phường N; Thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, địa chỉ xã T, huyện C và toàn bộ tài sản trên đất và trong nhà và thửa đất số 54-1, tờ bản đồ số 41. Còn lại để bà H sử dụng 02 thửa đất số 871, 872 tờ bản đồ số 35, địa chỉ băng A, đường N, phường N và thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: NV17, L10, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
Về nguyện vọng nhận tài sản của bà H: bà xin được sử dụng và sở hữu tài sản làthửa đất số 184, 185 tờ bản đồ số 13, địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V và tài sản trên 02 thửa đất là ngôi nhà 05 tầng liền khối vì đây là nơi duy nhất của bà và 02 con là Kiều Đức N và Kiều Thu H2 sinh sống và là nơi bà kinh doanh để duy trì cuộc sống và nuôi con (từ khi vợ chồng sống ly thân hơn 03 năm nay ông Đ thỉnh thoáng mới về nhà) và 02 thửa đất số 861, 862 tờ bản đồ số 35, địa chỉ: 2 thửa đất đều ở băng B, đường N, phường N, thành phố V. Tuy 02 thửa đất này có giá 14.500.000đồng/m² trong khi các thửa ở cùng băng 2, đường N giá chỉ 1.500.000đồng/m², bà muốn nhận 02 thửa đất giá cao hơn để liên kề với thửa đất băng 1 đường N thuộc quyền sử dụng riêng của bà. Bà đề nghị chia cho ông Đ tài sản là thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, địa chỉ xã T, huyện C và toàn bộ tài sản trên đất và trong nhà vì đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng là quê hương của ông Đ, là nơi ông Đ thường xuyên sinh sống và cũng là nơi ông Đ thờ cúng tổ tiên và thửa đất số số 225, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, trên đất có ngôi nhà 03 tầng (thửa đất này giáp thửa đất số 184, 185 tờ bản đồ số 13) để ông Đ có nơi ở tại thành phố V gần nơi công tác, còn lại các tài sản khác bà đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án ngày 23/6/2023 bà H có yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu phản tố ghi ngày 28/6/2023, Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố, nội dung đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung, cụ thể nội dung như sau:
Bà và ông Kiều Văn Đ kết hôn ngày 11/01/1992 có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở riêng và sinh sống tại phường N, thành phố V. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 1998 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn mất lòng tin lẫn nhau, đến năm 2018 mâu thuẫn bắt đầu trầm trọng, nguyên nhân là do ông Đ không quan tâm đến gia đình, vợ con. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay, vào khoảng đầu tháng 03/2022 ông Đ thường xuyên chửi bới, lặng mạ và nhiều lần đánh chửi bà. Đặc biệt là ngày 24/10/2022, ông Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cũng từ đó ông Đ thường xuyên có
4
hành vi dùng bạo lực xâm phạm thể xác và khủng bố bà về mặt tinh thần. Đối với yêu cầu phân chia tài sản do ông Đ đã được Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thụ lý số: 586/2022/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2022. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đ.
Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng có 03 con chung, Kiều Hồng P – sinh ngày 11/01/1993; Kiều Thanh H3 – sinh ngày 20/3/2000, đều đã thành niên lao động tự túc được, nên không yêu cầu giải quyết; Kiều Đức N – sinh ngày 09/10/2007, ly hôn bà H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đồng/tháng kể từ khi ly hôn. Tại phiên tòa bà H vẫn xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Kiều Đức N và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án ông Đ cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà H, vì ông cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài; Còn về con chung ông cũng xác định vợ chồng có 03 con chung như bà H trình bày và ông cũng đồng ý để bà H nuôi con chung Kiều Đức N; Tại phiên tòa bà H không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con, ông cũng đồng ý không cấp dưỡng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Đại diện Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B trình bày: Ông Đ và bà H là khách hàng đã vay tiền của ngân hàng, hiện nay đã tất toán không còn khoản nợ nào đối với ngân hàng, nhưng ông Đ và bà H chưa đến Ngân hàng để lấy lại tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 871, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất: B, đường N, phường N, nên chưa xóa thế chấp. Đại diện ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Đại diện Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh B trình bày: Ông Đ và bà H là khách hàng đã vay tiền của ngân, hiện nay đã tất toán không còn khoản nợ nào đối với ngân hàng, nhưng ông Đ và bà H chưa đến Ngân hàng để lấy lại tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 872, 873, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất B, đường N, phường N, nên chưa xóa thế chấp. Đại diện ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Kiều Văn T2 trình bày: Anh xác định thửa đất số 386, tờ bản đồ số 33, khu A, xã K, tp V, tên chủ sử dụng là Kiều Văn T2 do anh đứng tên thay ông Đ và bà H, tài sản này là của ông Đ và bà H. Khi Tòa án giải quyết chia tài sản này của ông Đ và bà H, Tòa án giao cho ai, thì anh sẽ có nghĩa vụ chuyển trả tên chủ sử dụng đất và tài sản trên đất cho người đó.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà H tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của bà H và chia tài sản chung của ông Đ, bà H theo quan điểm của bà H và theo quy định của pháp luật.
5
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì (TAND) đã quyết định:
Căn cứ Điều 55, Điều 59, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Khoản 2, 4 Điều 147; khoản 2, 3 Điều 157 của Bộ luật Tố dụng dân sự; khoản 7 Điều 26; Điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự:
Xử:
I. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Kiều Văn Đ.
II. Về con chung:
Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Kiều Văn Đ về việc nuôi con chung, như sau: Bà H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Kiều Đức N, sinh ngày 09/10/2007, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà H không yêu cầu.
Bà H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Con chung của ông Đ và bà H là Kiều Hồng P, sinh năm 1993; Kiều Thanh H3, sinh năm 2000 đều đã thành niên.
II. Về tài sản chung:
Công nhận sự thỏa thuận của ông Kiều Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thu H về việc hai bên thống nhất thỏa thuận giao cho ông Đ được quyền sử dụng và sở hữu tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, diện tích đất 413,7m² (trong đó 346m² đất ở và 67,7m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất khu 2 D, xã T, C, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 1.763.750.000đồng và sở hữu tài sản trên đất và trong nhà là 01 nhà xây 03 tầng diện tích xây dựng là 338,5m², hàng rào bê tông, cổng bê tông cốt thép, sân gạch bê tông, 04 cây bưởi 01 cây khế, 01 cây dâu da, 01 bộ bàn ghế gỗ mun, 01 đồng hồ cây gỗ mun trị giá tài sản là 2.070.120.500đồng. Tổng tài sản trị giá là 3.833.970.500₫ (Ba tỷ tám trăm ba mươi ba triệu chín trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng).
Còn lại các tài sản cần chia cụ thể như sau:
Giao cho ông Kiều Văn Đ sử dụng và sở hữu các tài sản sau:
- Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, diện tích 160m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: NV17, L, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 4.880.000.000₫ (Bốn tỷ tám trăm tám mươi triệu đồng).
- Thửa đất số 855, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
6
- Thửa đất số 856, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Thửa đất số 871, tờ bản đồ số 35, diện tích 96,75m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụngông Đ, bà H có trị giá 2.902.500.000đ (Hai tỷ chín trăm linh hai triệu năm trăm nghìn đồng)
- Thửa đất số 872, tờ bản đồ số 35, diện tích 96,75m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ và bà H có trị giá 2.902.500.000đ (Hai tỷ chín trăm linh hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Thửa đất số 225, tờ bản đồ số 12, diện tích 94,6m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 3.405.600.000đồng và sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà 03 tầng trị giá 630.738.000đồng,tổng cộng đất và tài sản trên đất là 4.036.338.000₫ (Bốn tỷ không trăm ba mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Tổng số tài sản hai bên thỏa thuận giao cho ông Đ và tài sản ông Đ được chia là 18.825.308.500đ (Mười tám tỷ tám trăm hai mươi lăm triệu ba trăm linh tám nghìn năm trăm đồng)
Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H sử dụng và sở hữu các tài sản sau:
- Thửa đất số 873, tờ bản đồ số 35, diện tích 92,25m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 2.767.500.000₫ (Hai tỷ bảy trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Thửa đất số 874, tờ bản đồ số 35, diện tích 101,25m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 3.037.500.000₫ (Ba tỷ không trăm ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Thửa đất số 857, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Thửa đất số 858, tờ bản đồ số 35, diện tích 88,6m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu B (B, đường N), phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 132.900.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng).
- Thửa đất số 861, tờ bản đồ số 35, diện tích 90,48m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 1.311.960.000đ (Một tỷ ba trăm mười một triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Thửa đất số 862, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: B, đường N, phường N, thành phố V,tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 1.305.000.000đ (Một tỷ ba trăm linh năm triệu đồng).
7
- Thửa đất số 184, tờ bản đồ số 13, diện tích 94,4m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 94,4m² x 36.000.000đ/m² = 3.398.400.000₫ (Ba tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13, diện tích 104,3m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 104,3 m² x 36.000.000đ/m² = 3.754.800.000₫ (Ba tỷ bảy trăm năm mươi tư triệu tám trăm nghìn đồng).
Trên 02 thửa đất 184, 185 tờ bản đồ số 13, địa chỉ khu G, phường N, thành phố V nêu trên có 01 nhà 05 tầng trị giá 1.773.727.000đ (Một tỷ bảy trăm bảy mươi ba triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn)
Tổng cộng tài sản là hai thửa đất 184,185, đều ở tờ bản đồ số 13, địa chỉ khu G, phường N và 01 ngồi nhà 05 tầng trên đất là: 8.926.927.000đ (Tám tỷ chín trăm hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
- Thửa đất số 54-1, tờ bản đồ số 41, diện tích đất 551m² (trong đó đất ở 100 m2, đất vườn diện tích 451 m2), địa chỉ: khu F, xã V, V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 327.743.400đ (Ba trăm hai mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng).
- Thửa đất số 255, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.188,2m² (trong đó đất ở nông thôn 300 m2; đất vườn 864 m2), địa chỉ:khu A, xã K, tp V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 491.414.400₫ (Bốn trăm chín mươi một triệu bốn trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng).
- Thửa đất số 386, tờ bản đồ số 33, diện tích 285m² (đều là đất ở nông thôn), địa chỉ: khu A, xã K, tp V, tên chủ sử dụng là ông Kiều Văn T2 (ông T2 là cháu ruột ông Đ đứng tên hộ, bà H xác định đó cũng là tài sản chung của vợ chồng để chia) có trị giá 342.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Tổng số tài sản bà H được chia là 18.777.944.800₫ (Mười tám tỷ bảy trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm đồng).
Ông Đ có nghĩa vụ thanh toán chênh lệnh tài sản cho bà H số tiền 23.681.800đ (Hai mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/9/2024, ông Kiều Văn Đ kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng sau:
Thẩm định, định giá lại đất và tài sản trên thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, địa chỉ: Khu B, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ vì Hội đồng định giá của UBND huyện C xác định quyền sử dụng đất theo giá thị trường, tuy nhiên không có căn cứ pháp lý. Do vậy, ông đề nghị định giá lại.
Chia lại tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 184, 185, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Khu G, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và tài sản trên đất và thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: NV17, khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà
8
Nội theo hướng: giao cho bà H thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: NV17, khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội và giao lại cho ông được quyền sử dụng thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13 và một phần tài sản trên đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Kiều Văn Đ, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ, bà Nguyễn Thị Thu H, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H thống nhất thỏa thuận như sau:
Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền sử dụng thửa đất số 184, tờ bản đồ số 13, diện tích 94,4 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 94,4 m² x 36.000.000đ/m2 = 3.398.400.000₫ (Ba tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13, diện tích 104,3 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 104,3m² x 36.000.000đ/m² = 3.754.800.000₫ (Ba tỷ bảy trăm năm mươi tư triệu tám trăm nghìn đồng).
Ông Kiều Văn Đ được quyền sử dụng Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, diện tích 160 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: NV17, L, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 828.000.000đ (T3 trăm hai mươi tám triệu đồng) và thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, diện tích đất 413,7 m² (trong đó 346 m² đất ở và 67,7 m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất khu 2 D, xã T, C, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H và toàn bộ tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây 03 tầng diện tích xây dựng là 338,5 m², hàng rào bê tông, cổng bê tông cốt thép, sân gạch bê tông, 04 cây bưởi 01 cây khế, 01 cây dâu da, 01 bộ bàn ghế gỗ mun, 01 đồng hồ cây gỗ mun với tổng trị giá tài sản là 1.794.183.022 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi tư triệu một trăm tám mươi ba nghìn không trăm hai mươi hai đồng) và các tài sản khác trên đất không định giá.
Bà H có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho ông Đ là 6.091.787.000đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Kiều Văn Đ. Đề nghị HĐXX sửa một phần bản án sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về án phí và chi phí tố tung: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
9
[1] Kháng cáo của ông Kiều Văn Đ hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Kiều Văn Đ, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ, bà Nguyễn Thị Thu H, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H thống nhất thỏa thuận như sau:
Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền sử dụng Thửa đất số 184, tờ bản đồ số 13, diện tích 94,4 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 94,4 m² x 36.000.000đ/m² = 3.398.400.000₫ (Ba tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13, diện tích 104,3 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 104,3m² x 36.000.000đ/m² = 3.754.800.000₫ (Ba tỷ bảy trăm năm mươi tư triệu tám trăm nghìn đồng).
Ông Kiều Văn Đ được quyền sử dụng Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, diện tích 160 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: NV17, L, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 828.000.000đ (T3 trăm hai mươi tám triệu đồng) và thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, diện tích đất 413,7 m² (trong đó 346 m² đất ở và 67,7 m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất khu 2 D, xã T, C, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H và toàn bộ tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây 03 tầng diện tích xây dựng là 338,5 m², hàng rào bê tông, cổng bê tông cốt thép, sân gạch bê tông, 04 cây bưởi, 01 cây khế, 01 cây dâu da, 01 bộ bàn ghế gỗ mun, 01 đồng hồ cây gỗ mun với tổng trị giá tài sản là 1.794.183.022 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi tư triệu một trăm tám mươi ba nghìn không trăm hai mươi hai đồng) và các tài sản khác trên đất không định giá.
Bà H có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho ông Đ là 6.091.787.000đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Xét thấy, thỏa thuận của ông Đ, bà H là tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp với pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng phúc thẩm:
Về chi phí tố tụng: Số tiền định giá lại tài sản chi phí hết 2.200.000đồng, tại phiên tòa ông Đ xin tự nguyện chịu toàn bộ, xét thấy sự tự nguyện của ông Đ phù hợp với pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ lại tài sản chi phí hết 2.500.000đồng, tại phiên tòa bà H xin tự nguyện chịu toàn bộ, xét thấy sự tự nguyện của bà H phù hợp với pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
10
Bà Nguyễn Thị Thu H xin chịu cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà H đã tạm nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0000447 ngày 03/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Bà H còn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 120.739.900₫ - 150.000₫ = 120.589.900đ (Một trăm hai mươi triệu năm trăm tám mươi chín nghìn chín trăm đồng)
Án phí phúc thẩm dân sự: Kháng cáo ông Đ được chấp nhận một phần nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H4 lại cho ông Đ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ. Sửa bản án sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Kiều Văn Đ.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền sử dụng Thửa đất số 184, tờ bản đồ số 13, diện tích 94,4 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 94,4 m² x 36.000.000₫/m² = 3.398.400.000₫ (Ba tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và Thửa đất số 185, tờ bản đồ số 13, diện tích 104,3 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: khu G, phường N, thành phố V, tên chủ sử dụng ông Kiều Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thu H có trị giá 104,3m² x 36.000.000đ/m² = 3.754.800.000₫ (Ba tỷ bảy trăm năm mươi tư triệu tám trăm nghìn đồng).
Ông Kiều Văn Đ được quyền sử dụng Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2, diện tích 160 m² (đều là đất ở đô thị), địa chỉ: NV17, L, Khu đô thị M, xã Q, huyện M, thành phố Hà Nội, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H có trị giá 828.000.000đ (T3 trăm hai mươi tám triệu đồng) và thửa đất số 518, tờ bản đồ số 38, diện tích đất 413,7 m² (trong đó 346 m² đất ở và 67,7 m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất khu 2 D, xã T, C, tên chủ sử dụng ông Đ, bà H và toàn bộ tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây 03 tầng diện tích xây dựng là 338,5 m², hàng rào bê tông, cổng bê tông cốt thép, sân gạch bê tông, 04 cây bưởi, 01 cây khế, 01 cây dâu da, 01 bộ bàn ghế gỗ mun, 01 đồng hồ cây gỗ mun với tổng trị giá tài sản là 1.794.183.022 đồng (Một
11
tỷ bảy trăm chín mươi tư triệu một trăm tám mươi ba nghìn không trăm hai mươi hai đồng) và các tài sản khác trên đất không định giá.
Bà Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho ông Kiều Văn Đ là 6.091.787.000đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
[2]. Về án phí và chi phí tố tụng phúc thẩm:
[2.1]. Về chi phí tố tụng phúc thẩm:
Ông Kiều Văn Đ tự nguyện chịu chi phí định giá lại tài sản 2.200.000đồng (Xác nhận đã nộp đủ).
Bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lại tài sản 2.500.000đồng (Xác nhận đã nộp đủ).
[2.2]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu H xin chịu cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà H đã tạm nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0000447 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Bà Nguyễn Thị Thu H còn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 120.739.900₫ - 150.000₫ = 120.589.900đ (Một trăm hai mươi triệu năm trăm tám mươi chín nghìn chín trăm đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
Ông Kiều Văn Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Đ 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006238 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
12
13
Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiều Văn Đ - Nguyễn Thị Thu H - Tranh chấp HNGĐ
