Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2025/DS-ST
Ngày: 26/3/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai và bà Võ Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 571/2024/TLST - DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (thay đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần L); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A tòa nhà T, số B, đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Quốc V, sinh năm 1982, chức vụ: Giám đốc Phòng G (giấy uỷ quyền số 8207/2024/UQ-LPBANK.AG ngày 22/7/2024) (ông V có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phan Quốc V1, sinh năm 2002; Địa chỉ: Tổ A, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Nhà nghỉ Đ, số B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị Thanh T, sinh năm 1972 và ông Phan Văn T1, sinh năm 1975; cùng cư trú: Nhà nghỉ Đ, số B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (ông T1, bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Ngày 07 tháng 06 năm 2023 ông Phan Quốc V1 đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Hạn mức tín dụng thẻ đề nghị cấp 50.000.000 đồng. Thời hạn cấp hạn mức 36 tháng (Từ ngày 07/06/2023 đến ngày 07/06/2023) và ký Hợp đồng tín dụng số HĐTD18C2023175 và Khế ước nhận nợ số 18C2023175/01 ngày 07/06/2023, để vay số tiền vốn là 800.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng (Từ ngày 08/06/2023 đến ngày 07/06/2024); Mục đích: Bổ sung vốn nuôi cá lóc; Để đảm bảo khoản vay, ông V1 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC18C2023175 ngày 07/06/2023 với Ngân hàng TMCP B – CN An Giang thế chấp tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất như sau: Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số phát hành DC 997221; số vào sổ CS10222 do Sở T2 cấp ngày 22/11/2021. Cập nhật thay đổi ngày 04/11/2022; ngày 15/02/2023; ngày 20/03/2023; ngày 23/03/2023 và ngày 06/06/2023. BĐS tại thửa số 124, tờ bản đồ số: 68 phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích 58,7 m²; Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CX 907953; số vào sổ CH10510 do UBND Thành phố C, tỉnh An Giang cấp ngày 17/10/2022. Cập nhật thay đổi ngày 04/11/2022; ngày 15/02/2023; ngày 20/03/2023; ngày 23/03/2023 và ngày 06/06/2023. BĐS tại thửa số 169, tờ bản đồ số: 68 phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích 91,3 m²;

Phương thức trả nợ gốc và lãi: Trả nợ gốc cuối kỳ vào ngày 07/06/2024.Trả lãi hàng tháng cố định vào ngày 05 theo dư nợ thực tế và kỳ cuối trả vào ngày đến hạn của khế ước nhận nợ.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn, tiền lãi theo thỏa thuận.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc V1 có trách nhiệm thanh toán vốn gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD18C203175 ngày 07/6/2023 là 885.219.348 đồng và lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng; trong đó số tiền tạm tính khoản vay đến ngày 20/7/2024 là 830.726.060 đồng, bao gồm: nợ gốc 800.000.000 đồng, nợ lãi 12.041.178 đồng, nợ lãi phạt gốc 18.519.452 đồng, lãi phạt lãi 165.430 đồng; Tổng số tiền tạm tính thẻ tín dụng đến ngày 20/7/2024 là 54.493.288 đồng, bao gồm: nợ gốc 44.577.469 đồng, nợ lãi/phí/thuế 9.915.819 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ và trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn ông V1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T, ông T1 nhưng các đương sự không cung cấp lời khai.

Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Ngân hàng trình bày: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết ngày 12/11/2024 ông V1 có thanh toán dứt khoản nợ thẻ với số tiền là 54.493.288 đồng (trong đó nợ gốc 44.577.469 đồng, tiền lãi 9.915.819 đồng) và thanh toán vón gốc 74.389 đồng đối với khoản vốn vay 800.000.000 đồng. Do đó, tại phiên tòa ngân hàng yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 26/3/2025 là 945.244.060 đồng (trong đó vốn gốc 799.925.611đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 05/4/2024 đến ngày 07/6/2024 là 18.038.152đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 07/6/2024 đến ngày 26/3/2025 là 127.280.297 đồng). Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp bị đơn không có khả năng trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ thẻ với số tiền là 54.493.288 đồng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị đơn ông V1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có Việt được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 945.244.060 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ. Trường hợp, bị đơn không trả nợ thì khi Bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100,103 Luật các tổ chức tín dụng ; Điều 7,8 Nghị quyết 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với khoản nợ thẻ với số tiền là 54.493.288 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Về thay đổi tên gọi của nguyên đơn: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, vào ngày 11/01/2025 Ngân hàng TMCP B cung cấp Thông báo số 6808/2024/TB-LPBank.AG ngày 23/8/2024 về việc thay đổi tên gọi thành Ngân hàng Thương mại cổ phần L.

Về nội dung:

[4] Ngân hàng khởi kiện cho rằng ông V1 đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh là các hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, bảng kê tính lãi...Quá trình giải quyết vụ án, bà Đinh Thị Thanh T (là mẹ ruột của ông V1) xác định ông V1 có vay tiền như theo đơn khởi kiện của Ngân hàng; riêng ông V1, ông T1 vắng mặt không cung cấp lời khai về việc vay tiền.

Xét, hợp đồng tín dụng số số HĐTD18C203175 ngày 07/6/2023 giữa Ngân hàng với ông V1 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[5] Về vốn vay và tiền lãi: Căn cứ Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông V1; lời khai đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng và lời khai bà T xác định vốn vay 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.

Theo trình bày của đại diện Ngân hàng, quá trình vay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng và vi phạm nghĩa vụ trả vốn vay khi đến hạn. Hiện còn nợ lại Ngân hàng vốn, lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 945.244.060 đồng.

Thấy rằng, giữa Ngân hàng với ông V1 có giao kết hợp đồng tín dụng vay tiền. Quá trình vay do ông V1 không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ngày 12/11/2024 bị đơn ông V1 thanh toán nợ gốc với số tiền là 74.389 đồng đối với khoản vốn vay 800.000.000 đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc V1 có trách nhiệm trả vốn vay và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận.

Buộc ông Phan Quốc V1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 26/3/2025 là 945.244.060 đồng (trong đó vốn gốc 799.925.611đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 05/4/2024 đến ngày 07/6/2024 là 18.038.152đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 07/6/2024 đến ngày 26/3/2025 là 127.280.297 đồng).

“Kể từ ngày 27/3/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[5] Về hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo các khoản vay nêu trên, ông V1 có ký hợp đồng thế chấp số HĐTC18C2023175 ngày 07/06/2023 về việc thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10222 do Sở T2 cấp ngày 22/11/2021; đất tọa lạc phường N, thành phố C và CH10510 do UBND Thành phố C, tỉnh An Giang cấp ngày 17/10/2022. Cả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này do ông Phan Quốc V1 đứng tên.

Xét thấy hợp đồng thế chấp số HĐTC18C2023175 ngày 07/06/2023 được các bên tự nguyện ký kết, có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định pháp luật.

[6] Đối với hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức vốn vay 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định bị đơn ông V1 đã thanh toán đủ vốn, tiền lãi cho Ngân hàng vào ngày 12/11/2024 với tổng số tiền là 54.493.288 đồng nên Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn về vốn vay, tiền lãi trong hợp đồng mở thẻ tín dụng với số tiền là 54.493.288 đồng.

Xét thấy, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn xác định bị đơn đã thanh toán vốn, tiền lãi khoản vay của hợp đồng thẻ tín dụng với số tiền là 54.493.288 đồng nên Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn về vốn vay, tiền lãi khoản vay này. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tố tụng, Ngân hàng nộp tạm ứng chi phí tố tụng với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Do đó, buộc bị đơn hoàn trả cho Ngân hàng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Bị đơn có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.375.000 đồng.

- Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 273, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần L (tên gọi cũ Ngân hàng TMCP B).

Buộc ông Phan Quốc V1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L (tên gọi cũ Ngân hàng TMCP B) số tiền là 945.244.060 đồng (trong đó vốn gốc 799.925.611đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 05/4/2024 đến ngày 07/6/2024 là 18.038.152đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 07/6/2024 đến ngày 26/3/2025 là 127.280.297 đồng).

“Kể từ ngày 27/3/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần L với ông Phan Quốc V1 để thu hồi nợ.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu 40.375.000 (bốn mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại cổ phần L (tên gọi cũ Ngân hàng TMCP B) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L số tiền 19.279.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

[3] Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phan Quốc V1 hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L (tên gọi cũ Ngân hàng TMCP B) tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

[3] Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lê Ngọc Tiền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng -Việt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger