1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G- TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
|
Bản án số: 07/2025/DS- ST Ngày 24 tháng 03 năm 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị H
Các hội thẩm nhân dân:
| 1. Ông Nguyễn Văn T |
| 2. Bà Trần Thị L |
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn T - Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị H– Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST- DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST- DS ngày 12/03/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng N.
- Địa chỉ trụ sở chính: Số BL, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc Ngân hàng N. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Xuân Đ - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G, tỉnh Bắc Ninh theo văn bản ủy quyền số 2665/QÐ- NHNo-PC ngày 01/12/2022 của người đại diện theo pháp luật của ngân hàng. Có mặt
- - Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1961; HKTT: Thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng N (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Phạm Xuân Đ trình bày:
Ngày 25/07/2023, ông Vũ Văn L bà Nguyễn Thị L1 ký với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số 2606 – LAV-202301062 để vay số tiền là 25.000.000 đồng. Thời hạn vay là 36 tháng, trả lãi 01 tháng/lần, trả nợ gốc theo kỳ như sau:
Ngày 25/7/2024 ông L bà L1 phải trả ngân hàng Nông nghiệp 05 triệu đồng tiền gốc.
Ngày 25/7/2025 ông L bà L1 phải trả ngân hàng Nông nghiệp 10 triệu đồng tiền gốc.
Ngày 25/7/2026 ông L bà L1 phải trả ngân hàng Nông nghiệp 10 triệu đồng tiền gốc.
2
Hợp đồng tín dụng nêu trên là khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản theo Nghị định số 55/2015/NĐCP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Khi vay, vợ chồng ông L, bà L1 tự nguyện giao cho Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất R 493598 số vào sổ GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000, và cam kết đồng ý, ủy quyền cho Ngân hàng toàn quyền xử lý tài sản theo giấy chứng nhận trên để trả nợ vay Ngân hàng nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ.
Việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên giữa ông L bà L1 với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và đúng quy định của pháp luật.
Ngân hàng đã giải ngân cho ông Vũ Văn L bằng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ, số giải ngân: 2606 –LDS -202302887 ngày 25/7/2023 số tiền giải ngân là 25.000.000 đồng tiền mặt.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L, bà L1 đã trả Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.287.671 đồng tiền lãi. Do điều kiện kinh tế khó khăn, ông L, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng dẫn đến quá hạn, nợ xấu. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đốc thúc nhưng vợ chồng ông L, bà L1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Tính đến ngày 24/03/2025 ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 còn nợ Ngân hàng số nợ gốc là: 20.000.000 đồng; Các khoản nợ lãi là: 2.845.206₫ đồng. Tổng cả gốc và lãi còn nợ là 22.845.206 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L bà L1 phải trả ngân hàng toàn bộ số tiền nêu trên và còn phải tiếp tục chịu toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 không thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản nợ lãi cho ngân hàng thì ngân hàng đề nghị được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên các tài sản và khấu trừ nguồn thu hợp pháp của ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo luật.
Ngoài ra ngân hàng không có bất cứ yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình làm việc tại Tòa án bị đơn bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Ngày 25/07/2023, ông Vũ Văn L bà Nguyễn Thị L1 ký với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số 2606 – LAV-202301062 để vay số tiền là 25.000.000 đồng. Về thời hạn vay, lãi suất và các nội dung khác đúng như ngân hàng đã trình bày. Bà L1, ông L hoàn toàn nhất trí với các nội dung đã ký kết trong hợp đồng tín dụng, việc ký kết hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Bà L1 xác định vợ chồng bà đã được Ngân hàng giải ngân cho vay số tiền là 25 triệu đồng.
Hợp đồng tín dụng nêu trên là khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản theo Nghị định số 55/2015/NĐCP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Khi vay, vợ chồng ông L, bà L1 tự nguyện
3
giao cho Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 493598 số vào sổ GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000.
Quá trình thực hiện các hợp đồng nêu trên, ông bà đã đã trả được một phần nợ gốc và một phần nợ lãi theo như thống kê, tính toán của Ngân hàng là đúng. Bà L1 xác nhận do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng bà không trả được nợ Ngân hàng theo như nội dung đã cam kết trong Hợp đồng tín dụng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đến làm việc và đôn đốc, ông bà cũng đã nhận được thông báo về việc bị kiện, tuy nhiên ông bà vẫn chưa có tiền để trả nợ.
Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông, bà phải trả tổng các khoản nợ gốc, các khoản tiền nợ lãi theo tính toán của Ngân hàng bà hoàn toàn nhất trí, không có ý kiến thắc mắc. Bà L1 thừa nhận vợ chồng bà còn nợ và thừa nhận nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn bà L1 đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông bà được trả dần số nợ gốc nêu trên theo lộ trình: Đến tháng 04/2025 vợ chồng bà sẽ trả ngân hàng 10 triệu đồng tiền gốc, đến tháng 08/2025 vợ chồng bà sẽ trả ngân hàng nốt 10 triệu tiền gốc còn lại. Đối với số nợ lãi, bà L1 đề nghị Ngân hàng M, giảm toàn bộ số lãi cho vợ chồng bà. Khi nào ông bà thực hiện nghĩa vụ trả nợ xong thì Ngân hàng có trách nhiệm trả ông bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 493598 số vào số GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000.
Trường hợp ông, bà không thu xếp được tiền để trả cho Ngân hàng như lời trình bày nêu trên thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần đến làm việc nhưng ông L đi làm, thường xuyên không có nhà vào giờ hành chính, nên việc tống đạt trực tiếp và lấy lời khai của ông L không thực hiện được. Bà L1 có trình bày, ông L ủy quyền cho bà nhận thay các văn bản tố tụng và trình bày quan điểm với Tòa án. Mọi ý kiến của bà L1 trước Toà cũng là ý kiến của ông L. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1, ông L, bà L1 không đến Toà án làm việc, tham gia hoà giải.
Tại phiên Tòa, đại diện Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 phải trả ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/3/2025 là: 22.845.206₫. Trong đó nợ gốc là: 20.000.000đ, các khoản nợ lãi là 2.845.206đ. Đồng thời, ngân hàng yêu cầu ông L, bà L1 tiếp tục chịu toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 không thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản nợ lãi cho ngân hàng thì ngân hàng đề nghị được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên các tài sản và khấu trừ nguồn thu hợp pháp của ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng khẳng định ông L, bà L1 không đủ điều kiện về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, không thuộc trường hợp được khoanh nợ, xoá nợ theo quy định tại Nghị định số 55 ngày 09/6/2015 của Chính phủ và Thông tư số 10 ngày 22/7/2015.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng, đủ theo quy
4
định của pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án là đầy đủ và đúng quy định của pháp luật; bị đơn thực hiện chưa đầy đủ, đúng pháp luật, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 170; 174; 227, 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng Dân sự, Các Điều 117, 275, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sựCác Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng Nghị định số 55 ngày 09/6/2015; Nghị định 116 ngày 07/9/2018; Thông tư số 10 ngày 22/7/2015 của Ngân hàng N1;
Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ, tính đến ngày 24/3/2025 là: 22.845.206đ. Trong đó nợ gốc là: 20.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 2.745.206đ, nợ lãi quá hạn là 100.000đ.
Kể từ ngày 25/03/2025 cho đến khi thi hành xong khoản nợ, ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 còn phải trả các khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 không thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản nợ lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên các tài sản và khấu trừ nguồn thu hợp pháp của ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng có trách nhiệm trả cho ông L, bà L1 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 493598 số vào số GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000 khi ông L, bà L1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị La .
Ngân hàng N được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự trong vụ án: Bị đơn là ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt đến lần thứ hai mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Hợp đồng tín dụng số 2606 – LAV-202301062 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 là Hợp đồng tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản theo Nghị định số 55/2015/NĐCP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Hợp đồng trên có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Việc ký kết hợp hợp đồng nêu trên giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các bên không có ý kiến gì thắc mắc về nội dung của hợp đồng. Tại thời điểm ký kết, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái
5
đạo đức xã hội. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng.
Ngân hàng đã thực hiện giải ngân đầy đủ số tiền theo Hợp đồng tín dụng nêu trên cho ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị La . Quá trình thực hiện hợp đồng mặc dù ngân hàng đã nhiều lần đến làm việc và đốc thúc nhưng ông L bà L1 vẫn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi. Bà L1 thừa nhận số nợ gốc và nợ lãi còn nợ Ngân hàng, thừa nhận nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng nhưng xin được trả nợ dần. Ông L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, được biết về số tiền còn nợ Ngân hàng nhưng không có ý kiến gì thắc mắc.
Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ, cần được chấp nhận, buộc ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 phải trả ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/3/2025 là: 22.845.206đ. Trong đó nợ gốc là: 20.000.000đ, các khoản nợ lãi là 2.845.206₫.
Ông L bà L1 còn phải chịu toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 không thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản nợ lãi cho ngân hàng thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên các tài sản và khấu trừ nguồn thu hợp pháp của ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng có trách nhiệm trả cho ông L, bà L1 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 493598 số vào số GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000 khi ông L, bà L1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
[4]Về án phí: Ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 là người cao tuổi, quá trình giải quyết vụ án bà L1 xin được miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí cho ông L, bà L1.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 170; 174; 227, 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng Dân sự,
Căn cứ các Điều 117, 275, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự
Căn cứ các Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng
Căn cứ Nghị định số 55 ngày 09/6/2015 của Chính phủ; Nghị định 116 ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 55;
Căn cứ Thông tư số 10 ngày 22/7/2015 của Ngân hàng N1;
Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền còn nợ, tính đến ngày 24/3/2025 là: 22.845.206đ. (Trong đó nợ gốc là: 20.000.000đ, các khoản nợ lãi là 2.845.206₫).
6
Kể từ ngày 25/03/2025 cho đến khi thi hành xong khoản nợ, ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 còn phải trả các khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng 2606 – LAV-202301062 ký ngày 25/7/2023 giữa Ngân hàng với ông L, bà L1.
Trường hợp ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 không thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản nợ lãi cho ngân hàng thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên các tài sản và khấu trừ nguồn thu hợp pháp của ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng có trách nhiệm trả cho ông L, bà L1 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 493598 số vào số GCN: 577 QSDĐ/312QĐ-H do UBND huyện G cấp ngày 07/11/2000 khi ông L, bà L1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị La .
Ngân hàng N được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 675.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23; Số: 0002866 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Thị H |
Bản án số 07/2025/DS- ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông L bà L tranh chấp hợp đồng tín dụng với ngân hàng N
