Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST

Ngày 23/5/2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất và hủy quyết định cá biệt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đức Tuyên
  2. Ông Nguyễn Đăng Hòa

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Vân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Danh T; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Người đại diện ủy quyền: Bà Hứa Thị Trung N; địa chỉ: A L, thành phố P, tỉnh Gia Lai (văn bản ủy quyền ngày 03/12/2024). Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D; địa chỉ: E đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh G; địa chỉ: A T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
    2. Người đại diện ủy quyền: Ông Chu Đức T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P (Giấy ủy quyền ngày số 136/GUQ-STNMT ngày 29/8/2024 và Công văn số 4637/STNMT-TTr ngày 05/12/2024 của Sở T, nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh G). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    3. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: H H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
    4. Người đại diện ủy quyền: Ông Hồ Thanh S - Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền số 51/GUQ-UBND ngày 03/12/2024). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  5. Người làm chứng: Ông Đặng Quang V; địa chỉ: F L, tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Đại diện nguyên đơn trình bày:

Năm 2004 ông Nguyễn Danh T ở quê vào thăm thân đồng thời có nhu cầu mua đất tại thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông T thông qua em ruột là ông Nguyễn Danh B và em dâu là bà Phạm Thị D nhờ tìm đất để mua. Sau khi ông B tìm được mảnh đất diện tích khoảng 700m² tại thôn B, xã C, nay là tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai của ông Đặng Quang V (ở F L), ông B cùng vợ là bà D dẫn ông T đến xem đất. Ông B đồng ý mua và gặp ông V để thỏa thuận việc chuyển nhượng. Ông V nói diện tích đất trên ông mua lại của ông Cao Xuân C, nhưng cả ông V và ông C đều mua lại bằng giấy viết tay, còn chủ đất cũ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Lê Quang T2 (công tác tại Quân đoàn I); nếu ông T2 đồng ý mua thì ông V đứng ra chịu trách nhiệm làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2. Ông T2 nhất trí mua với giá 60.000.000đ nhưng do lúc đó không có hộ khẩu tại tỉnh Gia Lai nên nhờ ông B và bà D giao tiền và đứng tên giúp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ông B, bà D nói sau khi làm được bìa đỏ sẽ gửi về quê cho ông T2, còn đất thì để họ trông nom giúp. Một thời gian sau ông T2 nhận được thông tin đã làm xong thủ tục nhận chuyển nhượng thửa đất. Sau đó, vợ chồng ông B, bà D gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra cho ông T2, ông T2 liền cất vào tủ và không để ý những nội dung ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2017, ông T2 làm thủ tục sang tên thửa đất để tặng cho con trai. Khi ông T2 nhờ vợ chồng ông B, bà D mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi làm thủ tục thì phát hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại đứng tên Trần Quốc C1 và Phạm Thị D. Ông T2 khẳng định thửa đất đất số 174, tờ bản đồ số 6 là do ông T2 bỏ tiền ra để nhờ ông vợ chồng em trai ông mua hộ, nên đây là tài sản của ông. Sự việc ông C1, bà D đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Nay ông khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Trần Quốc C1, ông Nguyễn Danh B, bà Phạm Thị D phải trả lại ông diện tích 651,3m² (đo đạc thực tế là 670,1m²) tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686767 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 9-8-2004 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D" và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 276510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 4-2-2021 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D". Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 13/3/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn xác định trên thực tế không có bị đơn tên "Trần Quốc C1" nên chỉ yêu cầu ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D trả đất và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Bị đơn ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D trình bày:

Ông, bà là vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 1989 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Năm 1992 ông, bà chuyển vào Gia Lai sinh sống tại địa chỉ số C L, xã T, thành phố P, nay là 54 L, tổ G, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho đến nay. Ông Nguyễn Danh T là anh ruột của ông Nguyễn Danh B. Vào năm 2004 ông T có nhờ vợ chồng ông tìm mua giúp 01 lô đất tại thôn B, xã C cũ, nay là tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai với giá 60.000.000 đồng của ông Đặng Quang V. Nguồn gốc thửa đất là của ông Lê Quang T2, địa chỉ: A Đ, tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vì khi mua đất ông T2 chưa sang tên cho ông V nên khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông đã nhờ ông V làm toàn bộ thủ tục. Không biết ông V làm như thế nào nhưng thời gian sau đó ông V có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, bà. Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bà không để ý nội dung mà gửi về quê cho ông T2 cất giữ, còn đất thì vợ chồng ông trông nom, canh tác cây ngắn ngày từ năm 2004 cho đến nay, không tranh chấp với ai. Năm 2017 ông T2 mới phát hiện ra tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686767 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 9-8-2004 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D” và yêu cầu ông, bà làm thủ tục đổi lại nhưng không được nên nghi ngờ ông, bà chiếm đoạt đất. Ông, bà thật sự không hề hay biết việc tên "Trần Quốc C1" trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì mọi thủ tục sang tên đổi chủ ông bà giao hết cho ông V làm. Năm 2020 do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đ 686767 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 9-8-2004 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D" đã hết hạn nên theo yêu cầu của cán bộ địa chính, ông B và bà D làm đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ông B có ghi tên "Trần Quốc C1, sinh năm 1957, số CMND [...]" cho phù hợp với giấy cũ để cấp Giấy chứng nhận số CU 276510. Nay ông, bà đồng ý trả lại toàn bộ thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, tại tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vì sự việc T2 nhờ ông, bà mua đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng sự thật. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 686767 ngày 09/8/2004 cho người đứng tên "Hộ ông bà Phạm Thị D và Trần Quốc C1".

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở T, nay là Sở N có ý kiến trình bày tại Văn bản số 1498/VPĐKĐĐ - ĐKCGCN ngày 09/8/2024 và tại Văn bản số 4637/STNMT-TTr ngày 05/12/2024 như sau: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 276510 ngày 04/02/2021 cho ông Trần Quốc C1 và bà Phạm thị D là đảm bảo quy trình, thủ tục theo quy định. Việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 276510 ngày 04/02/2021 cho ông Trần Quốc C1 và bà Phạm Thị D của nguyên đơn là chưa đủ cơ sở.

5. Người làm chứng ông Đặng Quang V trình bày:

Nguồn gốc diện tích 709m² tại thửa số 174A, tờ bản đồ 06, nay đo đạc lại là diện tích 651,3m² (thực tế 670,1m²) tại thửa số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ thôn B, xã C cũ, nay là tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai do ông mua của ông Lê Quang T2, trú tại A Đ, tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng chưa sang tên. Vào năm 2004 ông có bán cho vợ chồng ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D, khi bán ông có nói rõ là đất của ông chưa sang tên, nếu vợ chồng ông B, bà D có thiện chí mua thì tôi sẽ giúp sang tên theo quy định của pháp luật. Sau đó ông B, bà D đồng ý mua với giá 60.000.000đ. Thời điểm nhận tiền thì ông không còn nhớ, ông chỉ nhớ 01 ngày sau khi thỏa thuận mua bán thì các bên mới giao nhận tiền và ông tiến hành đi làm bìa cho ông B bà D luôn. Tại thời điểm giao tiền và làm thủ tục ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B và bà D thì ông B bận công việc nên không có mặt, chỉ có bà D mang tiền đến giao cho ông rồi đi về. Trong lúc tự làm hồ sơ cấp đất thì trên mẫu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có phần “bên nhận chuyển nhượng” gồm “chồng và vợ”, nhưng ông chỉ nhớ được tên bà Phạm Thị D, còn ông B thì ông không nhớ tên nên đã ghi đại tên "Trần Quốc C1" cho xong việc. Đến khi nhận được bìa đỏ thì ông không đọc mà đưa luôn cho ông B và bà D. Ông nghĩ thỏa thuận đã xong, ra được bìa thì mua bán đứt đoạt. Mãi đến khi cách đây 4-5 năm thì ông B mới tìm ông nói về việc sai tên trên bìa đỏ thì ông mới biết trên bìa ghi tên "Trần Quốc C1". Tại phiên tòa ông cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai này, ông khẳng định năm 2004 chỉ bán đất cho ông Nguyễn Danh B với bà Phạm Thị D, đến nay thì họ vẫn sinh sống tại phường P, thành phố P. Còn việc tên "Trần Quốc C1" trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B và bà D do ông tự nghĩ ra chứ trên thực tế không có.

* Phát biểu quan điểm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Các đương sự cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với "Trần Quốc C1".

Buộc ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D trả lại cho ông Nguyễn Danh T diện tích 651,3m² (đo đạc thực tế là 670,1m²) tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686767 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 9-8-2004 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D" và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 276510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 4-2-2021 ghi tên người sử dụng đất là “Trần Quốc C1, Phạm Thị D".

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc đương sự phải chịu án phí, xử lý tiền cho phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nguyên đơn ông Nguyễn Danh T khởi kiện “Đòi lại quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

[2] Tại phiên tòa, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh G và Ủy ban nhân dân thành phố P vắng mặt, nhưng có đơn đề xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Năm 2004 ông Nguyễn Danh T nhờ ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D nhận chuyển nhượng và đứng tên giúp thửa đất số 174, tờ bản đồ số 6 tại thôn D, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai, nay là thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ tại tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai của ông Đặng Quang V. Ông V là người đứng ra chịu trách nhiệm làm thủ tục sang tên cho ông B và bà D. Tuy nhiên khi tiến hành kê khai làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tại mục "Bên nhận chuyển nhượng", thay vì ghi tên ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D, ông V đã ghi tên là "Trần Quốc C1, Phạm Thị D". Ngày 09/8/2004 Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686167 đối với thửa đất số 174A, tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn D, xã C, thành phố P (nay là thửa số 391, tờ bản đồ số 32, tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đứng tên "Hộ ông, bà Phạm Thị D, Trần Quốc C1". Ngày 04/02/2021 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 276510 đối với thửa đất trên và ghi tên người sử dụng đất là "Hộ ông Trần Quốc C1, bà Phạm Thị D".

[4] Nguyên đơn và bị đơn đều công nhận, sự việc ông Nguyễn Danh T nhờ ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D đứng ra nhận chuyển nhượng và đứng tên giúp đối với thửa đất số 174, tờ bản đồ số 6 tại thôn D, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai là sự thật. Thửa đất hiện nay đo đạc thực tế là 670,1m² và xác định thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai do ông B và bà D đang trực tiếp quản lý. Do vậy ông T yêu cầu ông B, bà D trả lại diện tích đất trên là có căn cứ và phù hợp với các Điều các Điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2025.

[5] Ông Đặng Quang V là người chuyển nhượng thửa đất số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai khẳng định: ông chỉ chuyển nhượng thửa đất nói trên cho ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D, ngoài ra không chuyển nhượng cho ai khác. Tên "Trần Quốc C1" là do ông tự nghĩ ra để kê khai vào hợp đồng chuyển nhượng cho phù hợp chứ không có thật.

[6] Tại công văn số 02/CATT ngày 20/01/2025, Công an thị trấn P xác định: không có công dân Trần Quốc C1, sinh năm 1957, số CMND [...] đăng ký thường trú và sinh sống tại tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Tại các Công văn số 201/PC06-Đ6 ngày 20/01/2025 và số 1019/PC06-Đ6 ngày 07/5/2025, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh G xác định: số CMND [...] do Công an tỉnh G cấp ngày 20/12/1977 là của ông Nguyễn Danh B và chỉ cấp cho ông Nguyễn Danh B.

[7] Thông tin tên "Trần Quốc C1, số CMND [...], địa chỉ tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai" là không có thật; bà Phạm Thị D cũng chưa từng sinh sống và đăng ký thường trú tại tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686767 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số CU 276510 không thể hiện tài liệu chứng minh về nhân thân tên "Trần Quốc C1"; tại Trích lục kết hôn ngày 06/7/2022 (BL 02) do Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An cung cấp thể hiện, ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D đăng ký kết hôn ngày 18/7/1989. Khi tiến hành cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, cơ quan chức năng đã không yêu cầu người sử dụng đất nộp các giấy tờ chứng minh về nhân thân, quan hệ hôn nhân, huyết thống để đối chiếu, xác định chính xác thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản trên đất theo đúng quy định của pháp luật đất đai; dẫn đến sai sót thông tin của người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy việc hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên là cần thiết và đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính và Điều 152 Luật Đất đai năm 2015. Người sử dụng đất có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.

[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.100.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, nguyên đơn đã tạm ứng nên bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền này.

[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại tạm ứng án phí đã nộp trước đây cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 147; các Điều 157, 158, 165, 166, 235, 267, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính; các Điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 236 Luật Đất đai năm 2025; Khoản 1 Điều 26, điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Danh T.
  2. Ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D phải trả lại cho ông Nguyễn Danh T quyền sử dụng diện tích 670,1m² đất tại thửa số 391, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thửa đất có tứ cận: phía Đông giáp thửa đất số 2355 và thửa số 2356, dài 55,34m + 1,32m; phía Tây giáp thửa đất 540, dài 51,21m + 2,43m; phía Nam giáp đường bê tông, dài 12,20m; phía Bắc giáp đường đi, dài 12,72m (có sơ đồ trích lục đo vẽ kèm theo).
  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 686767 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 9-8-2004 cho "Hộ ông, bà Phạm Thị D, Trần Quốc C1" và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 276510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 04-2-2021 cho "Hộ ông Trần Quốc C1, Năm sinh: 1957, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: Tổ E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai và bà Phạm Thị D, Năm sinh: 1968, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: Tổ E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai ".
  4. Ông Nguyễn Danh T được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
  5. Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Danh B và bà Phạm Thị D phải phải trả cho ông Nguyễn Danh T số tiền 9.100.000 đồng (chín triệu một trăm nghìn đồng).
  6. Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  7. Về án phí: Ông Nguyễn Danh B, bà Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Trả lại cho ông Nguyễn Danh T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000192 ngày 18/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

    Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh G;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, TDS, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yv khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger