Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 07/2025/DS-ST

Ngày: 21-3-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Hoàng Phòng.
  2. Ông Lưu Vĩnh Hoà.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2023/TLST-DS ngày 05/7/2023, về việc “Tranh chấp ranh giới liền kề” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-DS ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1931 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1940 (ông N có mặt, bà Đ vắng mặt).
  2. Bị đơn: ông Nguyễn T, sinh năm 1965 (Vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị H, sinh năm 1964 (Vắng mặt).

Tất cả đương sự cùng cư trú tại: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2023, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Vợ chồng nguyên đơn (ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị Đ) là chủ sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 035717 do UBND huyện (nay là thị xã) Đông Hoà cấp ngày 16/12/2013. Năm 2017, ông Nhân R lại hàng rào theo sơ đồ sổ đỏ bằng trụ bê tông và dây thép gai để trâu bò khỏi qua lại, lấy từ mốc rào của ông Trần Thanh Đ1 kéo dây thẳng đến móc rào của ông Nguyễn C thì ông Nguyễn T ra ngăn không cho ông N rào.

Quá trình sử dụng, ông Nguyễn T đã lấn chiếm đất của vợ chồng nguyên đơn với diện tích khoảng 7m² (0,5m x 14m), theo Bản vẽ ngày 28/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P là 10,8m². Các cây bạch đàn, dương đã bị ông T chặt hạ chỉ còn gốc trên phần đất 10,8m² là của nguyên đơn mua đất của Phạm L đã có, ông L trồng từ năm 1984 để giữ đất. Ông Phạm L đã chết. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn T trả lại phần diện tích 10,8m² đã lấn chiếm để nguyên đơn làm hàng rào như ranh giới, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất trên phần diện tích 10,8m² nêu trên, không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.

Theo Biên bản hoà giải cơ sở và quá trình hoà giải tại toà án, bị đơn (ông Nguyễn T) trình bày: Đất của bị đơn cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 071821 do UBND huyện Đ cấp ngày 04/10/2013. Ông N nói ông (Thận) lấn qua phần đất của ông N 0,5m là không đúng. Ông đề nghị Toà án căn theo sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để xét xử. Riêng 04 cây (bạch đàn, dương) ông trồng vào năm 1984, nên ông được quyền chặt hạ để làm than, chỉ còn thân gốc cao khoảng 1,2m. Ông Phạm L lúc đó chưa ở đây. Ông Phạm L đã chết, vợ chồng ông không lấn đất của nguyên đơn. Do đó, bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, tất cả các lần làm việc ông Nguyễn T chỉ trình bày nhưng không ký vào biên bản.

Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày, yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn T trả lại phần diện tích 10,8m² đã lấn chiếm để nguyên đơn làm hàng rào như ranh giới, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất trên phần diện tích 10,8m² nêu trên, không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn T trả lại phần diện tích 10,8m² đã lấn chiếm, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất trên phần diện tích 10,8m². Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự; Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Nguyên đơn (ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị Đ) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn T trả phần diện tích 10,8m² đã lấn chiếm và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất toạ lạc tại khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà.
    2. Nguyên đơn bà Trần Thị Đ, bị đơn ông Nguyễn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H đã được toà án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 91, khoản 1 Điều 96, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Toà án xác minh, thu thập để giải quyết, vụ án vẫn được tiến hành xét xử. Ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải tự chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật vì sự vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.
  2. Về nội dung vụ án: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn T trả phần diện tích 10,8m² đã lấn chiếm và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, thấy rằng:
    1. Nguyên đơn và bị đơn đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mình đang quản lý sử dụng. Theo đó, nguyên đơn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.294m² thuộc thửa 84, tờ bản đồ 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 035717 cấp ngày 16/12/2013; bị đơn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất diện tích 756,3m² thuộc thửa 85, tờ bản đồ 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 071821 cấp ngày 04/10/2013. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn ông Nguyễn T và bà Trần Thị H được các chủ sử dụng đất ký giáp ranh, trong đó có nguyên đơn ông Nguyễn N.
    2. Theo hồ sơ địa chính do UBND phường H cung cấp thể hiện tại tờ bản đồ địa chính 19A đo đạc năm 1995 và tờ bản đồ địa chính 23 thì ranh giới thửa đất số 84 và thửa đất số 85 tiếp giáp nhau đều là đường thẳng. Điều này phù hợp theo cạnh tiếp giáp thửa đất của nguyên đơn và bị đơn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho các bên.
    3. Tại Bản vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P ký duyệt ngày 28/8/2024 thấy rằng:
      1. Diện tích của nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng theo hiện trạng đều tăng, trong đó, bị đơn đang sử dụng 796,3m² (tăng 40m²), nguyên đơn đang sử dụng 1.301,5m² (tăng 7,5m²). Điều này phù hợp hồ sơ địa chính do UBND phường H cung cấp, việc tăng giảm diện tích do quá trình sử dụng và quá trình đo đạc bản đồ có sự thay đổi theo thời gian.
      2. Ranh giới giữa thửa đất số 84 (của nguyên đơn) và thửa đất số 85 (của vợ chồng bị đơn) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện là đường thẳng, nhưng theo Bản vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P ký duyệt ngày 28/8/2024 các đương sự đang tranh chấp là đường gấp khúc nằm trong phần thửa 84, tờ bản đồ 23 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 035717 cấp ngày 16/12/2013 cho nguyên đơn. Áp ranh giới theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên được nhà nước công nhận và hiện trạng ranh giới theo Bản vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P ký duyệt ngày 28/8/2024 thì phần diện tích các bên đang tranh chấp là 10,8m² (các cạnh nối liền khép kín các điểm 8, 9, 16, 17, 18, 19) thuộc phần thửa 84, tờ bản đồ 23 của nguyên đơn.
  3. Từ những phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cở sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và trả lại phần diện tích 10,8m² thuộc một phần thuộc thửa 84, tờ bản đồ 23 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 035717 ngày 16/12/2013 cho nguyên đơn quản lý sử dụng.
  4. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023, trên phần đất đang chấp 10,8m² tồn tại 02 gốc cây bạch đàn (bạc hà), 04 cây dương, 01 cây đu đủ. Ngày 25/11/2024, Hội đồng định giá không xác định được giá trị 04 cây dương, 01 cây đu đủ đã bị chặt. Quá trình giải quyết nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về chi phí, xem xét, thẩm định và định giá tài sản: với tổng cộng số tiền 10.000.000 đồng (chi phí xem xét, thẩm định với số tiền 8.755.000 đồng; chi phí định giá 1.245.000 đồng) bị đơn phải chịu, nguyên đơn đã tạm ứng 10.000.000 đồng nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn.
  6. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch; nguyên đơn thuộc đối tượng miễn nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, khoản 4 Điều 91, các Điều 147, 157, 165, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166, 167, 188 Luật Đất đai; Áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị Đ về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn T, vì có căn cứ.

  1. Buộc bị đơn ông Nguyễn T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và trả lại phần diện tích đất 10,8m² thuộc một phần thuộc thửa 84, tờ bản đồ 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 035717 cấp ngày 16/12/2013 đã cấp cho nguyên đơn quản lý sử dụng theo Bản vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P ký duyệt ngày 28/8/2024, toạ lạc tại khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (kèm theo Bản vẽ).
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: buộc ông Nguyễn T phải chịu 10.000.000 đồng; ông Nguyễn T phải hoàn trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) cho ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị Đ đã nộp tạm ứng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành xong.

  3. Về án phí: ông Nguyễn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND Thị xã, Tỉnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm và buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo. Bản án phúc thẩm bác kháng cáo - giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger