Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST

Ngày: 13 - 6 - 2025

V/v: Kiện đòi quyền sử dụng đất

và nhà trên đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng và ông Đỗ Hồng Tuyên

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Kiện đòi quyền sử dụng đất và nhà trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1949, số căn cước công dân [...] và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951, số căn cước công dân [...]; Đều có địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  2. Người được bà H1 ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Phạm Thế N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  3. Bị đơn: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1963, số căn cước công dân [...]; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình;
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.
    2. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1991; HKTT: tổ dân phố số G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Địa chỉ tạm trú: Tổ dân phố T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  5. Người làm chứng:
    1. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số D đường L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
    2. Bà Phạm Thị R, sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;
    3. Ông Nguyễn Thu S, sinh năm 1944; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình

(Ông H, anh N, bà N1, chị H2, chị C, bà R có mặt;

Bà H1, bà D, ông S vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị H1 thống nhất trình bày:

Tháng 02/1987, cụ Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thu S (con trai cụ T) có nhu cầu bán nhà đất gồm 03 thửa đất theo bản đồ 299 là 01 thửa đất có nhà ở, số thửa 642, diện tích 230m², 01 thửa đất vườn, số thửa 643, diện tích 25m² và 01 thửa đất ruộng, số thửa 496, diện tích 145m² đều mang tên cụ T và có địa chỉ tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trên thửa đất 642 có một ngôi nhà 4 gian lợp ngói và công trình phụ. Cụ T đồng ý bán nhà đất cho ông H với giá 250.000 đồng, ông H đã giao 205.000 đồng cho cụ T, còn thiếu 45.000 đồng, đến tháng 5/1987 ông H trả nốt số tiền còn thiếu. Ngày 01/3/1987, ông S đã viết Đơn xin phép bán nhà và trả lại đất với nội dung: gia đình ông S bán và chính thức bàn giao ngôi nhà ngói 04 gian và một số công trình phụ cho ông H kể từ ngày 08/3/1987 và trả lại đất đai thổ cư của Nhà nước cho chính quyền; đồng thời ông S viết hộ ông H Đơn xin đất. Ngày 08/3/1987, là ngày giỗ lần thứ 8 của bố đẻ ông S, hôm đó có cụ T và đông đủ con cháu của cụ T, ông S đã công bố việc ông bán nhà của cụ T cho ông H và bàn giao nhà cho ông H, bà H1, đồng thời ông S đưa cụ T ra Quảng Ninh sinh sống từ đó. Ngày 05/4/1987, ông H cùng ông S đến Ủy ban nhân dân xã T cũ (nay là xã A) đề nghị chứng nhận vào Đơn xin đất và đã được ông Nguyễn Bá M là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L bấy giờ chứng nhận.

Sau khi nhận nhà của cụ T, ông H, bà H1 chuyển ra sinh sống tại ngôi nhà ngói 04 gian trên thửa đất 642. Một thời gian sau, cụ T do không ở được với con trai nên quay về quê và nói với ông H, bà H1 cho cụ ở nhờ. Ông H, bà H1 đã làm tạm 02 gian nhà nhỏ trên thửa đất số 643 cho cụ T ở nhờ. Khoảng 5 năm sau ông S lại về quê đón cụ T ra Quảng Ninh, cụ T trả lại nhà đất cho ông H, bà H1. Sau khi cụ T trả lại nhà đất, ông H, bà H1 bán thửa số 643 để lấy tiền mua ngói bro xi măng lợp lại hiên nhà tại thửa 642.

Cụ Phạm Thế T1 và cụ Nguyễn Thị N2 sinh được 04 người con là ông Phạm Văn H (Phạm Thế H3), bà Phạm Thị R, bà Phạm Thị D và ông Phạm Văn G (Phạm Thế G1). Cuối năm 1988, ông G1 đi bộ đội xuất ngũ trở về địa phương và nói với ông H3, bà H1: “Anh chị là trưởng, anh chị về ở, trông nom bố mẹ lúc tuổi giả, anh chị cho em ra đây ở một mình, em không nuôi được bố mẹ, khi nào cháu T2 (con trai ông H3) trưởng thành, em sẽ trả lại nhà cho cháu, em đi nơi khác”. Vợ chồng ông H3 đồng ý, thu dọn đồ đạc về ở với các cụ và để cho ông G1 sử dụng nhà đất tại thửa số 642, vì lúc đó bố ông H3 rất yếu, mẹ ông H3 bị mắc bệnh thần kinh.

Năm 1989, ông G1 cưới bà Lê Thị N1 và vẫn sinh sống trên thửa đất 642. Năm 1993, ông G1 bị bệnh thương hàn chạy vào não nên bị điên, đến năm 2002 ông G1 chết, bà N1 một mình nuôi hai con ăn học rất khó khăn nên ông H3, bà H1 không nói đến việc đòi nhà. Khi chị Phạm Thị H2 (con gái ông G1 bà N1) chuẩn bị lấy chồng, bà N1 lợp lại mái ngói 04 gian nhà và làm lại công trình phụ gồm bếp, nhà vệ sinh, lán tôn. Năm 2007, khi nhà nước đo đạc lập bản đồ Vlap thì thửa đất 642 thành thửa số 675 tờ bản đồ số 2, diện tích 230m². Vào tháng Giêng năm 2024, sau ngày giỗ bố ông H3, bà N1 muốn sửa lại nhà nhưng ông H3, bà H1 không đồng ý mà muốn chia thửa đất 675 thành 03 phần cho bà N1 và hai con ông H3, bà H1 mỗi người một phần. Hai bên xảy ra tranh chấp nên ông H3 bà H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định vợ chồng ông H3, bà H1 là người có quyền sử dụng thửa đất số 675 và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất này là ngôi nhà 4 gian; buộc bà N1 phải trả lại cho vợ chồng ông H3 thửa đất và ngôi nhà này, ông H3, bà H1 sẽ có trách nhiệm thanh toán cho bà N1 giá trị tài sản mà N1 đã làm trên đất gồm bếp, nhà vệ sinh, lán tôn.

* Bị đơn bà Lê Thị N1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 675 trước đây là thửa 642 (tờ bản đồ 299) có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Thị T, bà N1 không biết cụ T bán đất cho ai. Năm 1989 khi bà N1 kết hôn với ông G1, bà N1 nghe cụ N2 và ông G1 nói chuyện với nhau về thỏa thuận từ trước giữa các cụ với ông H3, bà H1, ông G1 là vợ chồng ông H3, bà H1 tiếp quản thửa đất số 48, diện tích 250m² theo bản đồ đo đạc năm 299, trên đất có ngôi nhà cấp 4 đều là tài sản của cụ T1, cụ N2 có địa chỉ tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình (trước kia là xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình) còn vợ chồng ông G1, bà N1 ở trên thửa đất số 675 hiện nay. Trong đơn xin đất của ông H3 viết gửi Ủy ban nhân dân xã T ngày 08/03/1987 cũng nêu rõ: “Hoàn cảnh gia đình tôi có 2 anh em trai mà hiện tại mới chỉ có 1 chỗ ở”. Khi thủ tục liên quan đến việc mua bán nhà và xin đất xong thì ông G1 đã ra nhà mới ở luôn. Khi về làm dâu, ông G1, bà N1 vẫn phải thanh toán một số khoản nợ liên quan đến việc mua đất và căn nhà trên thửa đất 675. Việc ông H3 bán thửa đất số 643 (bản đồ 299) như thế nào, bà N1 không biết.

Năm 1989, khi bà N1 về ở trên đất đã có sẵn 01 bể nước mưa 1m³, 01 giếng nước, 01 chuồng lợn, 02 gian nhà bếp mái rạ tường được xây bằng gạch non, 04 gian nhà ngói. Năm 1992 vợ chồng bà N1 phá dỡ 02 gian nhà bếp mái rạ tường được xây bằng gạch non để xây nhà bếp cải tiến có ống khói. Năm 2002, ông G1 bị bệnh qua đời. Sau khi ông G1 mất một thời gian, bà N1 sửa chữa sân, lấp giếng, xây tường và đảo lại mái ngói nhà chính do 04 gian nhà ngói đã cũ, dột nát. Năm 2013 do nhu cầu sinh hoạt của gia đình, bà N1 phá dỡ nhà bếp để xây dựng lại bếp và công trình phụ khép kín làm thay đổi hiện trạng căn nhà cấp 4 cũ. Trong quá trình sinh sống và tu sửa căn nhà, gia đình ông H3 và bà H1 không có ý kiến gì.

Vợ chồng ông G1, bà N1 sinh sống ổn định và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí cho nhà nước trên thửa đất số 675 từ năm 1989 đến nay. Nay bà N1 không đồng ý với việc trả đất, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H3, bà H1.

* Chị Phạm Thị H2, Phạm Thị C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với lời trình bày của bà Lê Thị N1 và đề nghị Toà án không chấp nhận đơn khởi kiện của ông H3 và bà H1.

* Tại bản tự khai, bà Phạm Thị D là người làm chứng trình bày: Bà là con gái cụ Phạm Thế T1 và cụ Nguyễn Thị N2, là em gái của ông H3 và chị gái của ông G1. Từ năm 1978 bà đi bộ đội rồi chuyển ngành công tác tại huyện K, tỉnh Gia Lai, không ở nhà nên không rõ mọi việc tranh chấp. Bà chỉ liên lạc về nhà để nhờ ông H3 và bà H1 chăm sóc các cụ vì các cụ đã già yếu, cụ N2 thần kinh không ổn định không đủ khả năng để tự chăm sóc bản thân nên phải phụ thuộc vào vợ chồng ông H3. Năm 1996, vì cụ N2 mất nên gia đình bà D về quê và thấy gia đình ông G1, bà N1 đã ở trên thửa đất đang tranh chấp. Vì ở xa lâu mới về, ông G1 lại bị thương hàn chạy vào não, bà N1 không nói gì nên bà D không rõ vợ chồng ông G1 ở trên đất từ khi nào. Năm 2002, bà nghe tin ông G1 mất nhưng bà không về được. Những lần sau này về thăm quê bà vẫn thấy bà N1 cùng 02 con sống trên thửa đất tranh chấp. Mỗi lần về quê bà đều được nghe bà H1 tâm sự về việc nhà ông G1 chỉ còn ba mẹ con, hai đứa nhỏ (chị C, chị H2) còn đang đi học nên khó khăn, cứ để ở đó rồi sau hai đứa ổn định lo được nhà cửa cho mẹ rồi ông H3, bà H1 lấy lại nhà sau. Bà D không tham gia vào việc giải quyết tranh chấp và đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng pháp luật.

* Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bà Phạm Thị R là người làm chứng trình bày: Bà là con gái của cụ Phạm Thế T1 và cụ Nguyễn Thị N2, là em gái của ông Phạm Văn H và là chị gái của ông Phạm Thế G1.

Về nguồn gốc nhà đất ông H và bà N1 tranh chấp: Khoảng đầu năm 1987, bà thấy ông H4 là anh rể họ của bà và ông H vào nhà bà nói là vợ chồng ông H mua nhà của ông S, nếu bà có tiền thì mang về cho vợ chồng ông H vay nhưng bà không có tiền cho ông H vay. Lúc ông H mua nhà của ông S thì ông G1 đi bộ đội. Tiền mua nhà đất là của vợ chồng ông H chứ bố mẹ bà chỉ làm ruộng lại già yếu, cụ N2 bị bệnh tâm thần sống phụ thuộc vào vợ chồng ông H, nên không thể có tiền đưa cho ông H mua nhà được. Sau khi mua nhà của ông S, vợ chồng ông H chuyển ra sinh sống tại đó. Năm 1988, ông G1 xuất ngũ, trở về địa phương. Vợ chồng ông H đã quay về chung sống với bố mẹ để tiện trông nom, chăm sóc bố mẹ và cho ông G1 ra ở tại nhà của vợ chồng ông H mua. Bà nghe bà H1, vợ ông H kể lại là ông G1 nói với vợ chồng bà H1 là cho ông G1 ở nhờ, khi nào cháu T2- con trai ông H trưởng thành thì ông G1 trả lại nhà cho cháu T2. Tại phiên tòa, bà khẳng định chưa bao giờ nghe thấy cụ T1, cụ N2 nói đến thỏa thuận về việc chia đất cho hai người con trai, mỗi người một thửa đất, một cơ nghiệp như bà N1 trình bày.

Năm 1989, cụ T1 chết, cụ N2 mắc bệnh tâm thần nên anh chị em bà thống nhất cưới chạy tang cho ông G1 và bà N1. Sau khi cưới, ông G1 và bà N1 vẫn sinh sống tại nhà của vợ chồng H và sinh được hai con là chị H2 và chị C. Năm 1993, ông G1 bị bệnh thương hàn chạy vào não nên bị điên, đến năm 2002 ông G1 chết, bà N1 và các con vẫn ở đó. Lúc ông G1 còn sống, ông G1 không nói với bà chuyện gì liên quan đến nhà cửa, đất cát; vợ chồng ông H cũng không nói gì là đòi lại nhà bà N1. Chỉ có bà H1 cứ nói lại với bà R là “Thôi cứ để cho mẹ con nó (mẹ con bà N1) ở đi, khi nào các cháu nó thành đạt rồi thì trả lại nhà cửa cho anh chỉ". Khi chị C chuẩn bị lấy chồng, thì bà N1 làm lại công trình phụ.

Sự việc tranh chấp diễn ra như sau: Ngày 21 tháng Giêng năm 2024, là ngày giỗ cụ T1; nhưng do bà bị ốm nên không tham gia. Nhưng bà được nghe mọi người kể lại là hôm đó ông H, bà H1 và anh Phạm Văn T2 (con trai út của ông H) có ý kiến là chia thửa đất mà N1 đang sử dụng ra làm 03 suất vì mặt đường rộng, cho bà N1, anh T2, chị Phạm Thị H5 (con gái ông H) mỗi người 1 suất; nếu bà N1 không muốn ở đấy thì anh N là con trai lớn của ông H sẽ đưa cho bà N1 500 triệu để bà N1 mua đất khác nhưng nhưng bà N1 không đồng ý, chị H2 trả lời là “không thèm đồng tiền nhơ bẩn ấy”. Từ đó hai gia đình mâu thuẫn. Bà R trình bày hiện bà đã già yếu, không tham gia vào việc giải quyết tranh chấp gữa ông H, bà N1. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo pháp luật. Về nhà đất của bố mẹ bà để lại hiện nay vợ chồng ông H vẫn đang sử dụng, bà không yêu cầu Tòa án chia.

* Tại Biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn Thu S là người làm chứng trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 675 tờ bản đồ địa chính số 2, tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình trước đây là thửa 642 (tờ bản đồ 299), diện tích khoảng hơn 01 sào rưỡi có nguồn gốc là của cụ T, mẹ đẻ của ông S. Ngày xưa đất của các cụ có diện tích khoảng 01 sào rưỡi, hơn 500m² nhưng sau xã làm đường, đất bị phân chia thành 02 bên đường, bên Tây khoảng 06, 07 thước, bên Đ nhiều hơn khoảng 9, 10 thước. Ông H đã bán phía bên Tây đường và phía nam trước cửa nhà, hiện nay đất chỉ còn khoảng 230m². Trên đất có nhà, có sân và chuồng lợn hiện nay do bà N1 đang làm ăn sinh sống trên đất.

Về việc mua bán thửa đất: Năm 1987, cụ T là người chủ động bán đất vì ông S đang có nhu cầu bán đất làm nhà ở Quảng Ninh. Đất có nhiều người muốn mua nhưng bố mẹ ông H có nhu cầu nên nói với cụ T để lại đất cho với lý do là có 02 con trai thì mua đất để mỗi người con trai một cơ nghiệp. Thời điểm đó, bố mẹ ông H vẫn còn khỏe mạnh bình thường. Việc bán chác, thu xếp giá cả đều do cụ T đứng lên vì ông S đang đi làm ở Quảng Ninh, ông không biết cụ T bán bao nhiêu tiền, nhận tiền từ ai. Ông không nhớ rõ cụ thể ông đã nhận bao nhiêu tiền vì thời gian đã lâu Cụ T đưa tiền cho ông S mua nhà còn thóc thì chia cho các em ông S. Cụ T chỉ nói khi nào ông S về thì viết giấy bán đất. Việc bán nhà không có mẫu giấy bán nhà, ông S là người trực tiếp viết “Đơn xin phép bán nhà và trả lại đất” sau đó mang ra Ủy ban có ông M chủ tịch là người nhà ông H đóng dấu đỏ. Mọi người trong nhà ông S đều nhất trí và không có ý kiến gì, không dây dưa tham gia vào vụ án tranh chấp giữa nội bộ gia đình nhà ông H, đề nghị Tòa án kết hợp giữa tình và lý để giải quyết thỏa đáng.

* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản như sau:

Thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 2 diện tích 229m², mục đích sử dụng theo hiện trạng là đất ở, có tứ cận như sau:

- Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị T3 dài 3,68m + 1,09m + 8,03m + 5,03m + 2,36m.

- Phía Nam giáp ngõ dài 11,03m.

- Phía Đông giáp đường giao thông dài 18,45m.

- Phía Nam giáp đất ông Mai Ngọc B dài 6,55m + 0,35m + 5,98m.

Tài sản gắn liền với thửa đất gồm 01 ngôi nhà mái ngói 58,3m² xây dựng năm 1978 do cụ T xây dựng; 01 công trình phụ mái bằng 21,6m²; 01 nhà tạm mái tôn 19,8m², 01 bể nước mưa 3m³, 01 chuồng lợn 10,6m², 01 tường dậu phía Bắc cao 1,2m dài 12,8m, 01 tường dậu phía Nam cao 1,6m dài 11m; 01 cổng sắt do bà N1 xây dựng đều đã hết niên hạn sử dụng. Các loại cây ăn quả do bà N1 trồng gồm 01 cây khế trị giá 450.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 250.000 đồng, 01 cây hồng xiêm trị giá 500.000 đồng.

Giá trị đất ở nông thôn là 229m² x 2.460.000 đồng = 563.340.000 đồng.

Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là 564.540.000 đồng.

* Tại Biên bản xác minh, Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình xác định:

- Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp được thể hiện như sau:

Theo bản đồ 299 đo đạc hiện trạng trước năm 1986 thì thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 642 diện tích 230m² tại thôn A, xã T (nay là xã A) huyện T, tỉnh Thái Bình, là loại đất thổ cư, có tứ cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp thửa đất 641; Phía Tây giáp đường giao thông trục xã; Phía Nam giáp ngõ xóm; Phía Bắc giáp thửa đất 635. Thửa đất trên có nguồn gốc là đất ở của cụ Nguyễn Thị T.

Năm 2007, Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã A) thực hiện dự án đo đạc lập bản đồ địa chính bằng máy theo chỉ thị từ Ủy ban nhân dân tỉnh T thì khi đo đạc vào ngày 05/7/2007 thì thửa đất 642 (theo bản đồ 299) là thửa đất số 675 tờ bản đồ số 02 diện tích 230,7m², loại đất ONT, thuộc thôn A, xã T (nay là xã A), huyện T, tỉnh Thái Bình do hộ bà Lê Thị N1 sử dụng có tứ cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp đất ông Mai Ngọc B có chiều dài các đoạn 6,56m + 0,28m + 5,98m; Phía Tây giáp đường giao thông trục xã có chiều dài 18,5m; Phía Nam giáp ngõ xóm có chiều dài các đoạn 4,49m + 6,59m; Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị T3 có chiều dài các đoạn 3,97m + 0,70m + 8,13m.

Ngày 01/3/1987 ông Nguyễn Thu S (là con trai cụ Nguyễn Thị T) có làm đơn xin phép bán nhà và trả lại đất có xác nhận của UBND xã T ngày 05/4/1987 do chủ tịch Nguyễn Bá M ký xác nhận, trong nội dung đơn ông Nguyễn Thu S thay mặt gia đình bán đất thổ cư trên đất có ngôi nhà ngói 4 gian và một số công trình phụ đang sử dụng cho ông Phạm Thế H3. Cùng ngày 01/3/1987 ông Phạm Thế H3 gửi UBND xã T có đơn xin đất, có xác nhận của UBND xã T ngày 05/4/1987 do chủ tịch Nguyễn Bá M ký xác nhận, trong nội dung đơn ông Phạm Thế H3 mua ngôi nhà ngói 4 gian và các công trình phụ khác trên đất thổ cư. Các giấy tờ chuyển nhượng, mua bán đất giữa ông S và ông H3 do các bên giữ, UBND xã không lưu trữ nên không có tài liệu cung cấp cho Tòa án.

Ngày 18/4/2025, Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ; kết quả đo đạc cho thấy hình thể, kích thước thửa đất tranh chấp thay đổi không đáng kể so với Bản đồ địa chính đo đạc năm 2007 nhưng so với kích thước được ghi trên bản đồ 299 năm 1986 và bản đồ đo đạc năm 2007 thì có sự chênh lệch là do sai số đo đạc, phương pháp đo đạc.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, đề nghị Tòa án xác định ông H3, bà H1 là người có quyền sử dụng thửa đất số 675 và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất này là ngôi nhà 4 gian; buộc bà N1 phải trả lại cho vợ chồng ông H3 thửa đất và ngôi nhà này.

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các điều 1, 5, khoản 4 Điều 12, khoản 3 điều 13, 16 Luật đất đai năm 1987; điều 4,5, 59, 63 Luật đất đai 2013; khoản 47 Điều 3; Điều 26; 37, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 176, 255 BLDS 1995; Điều 166; Điều 579; Điều 580; Điều 583 Bộ luật Dân sự 2015; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bà N1 phải trả lại thửa đất số 675, tờ bản đồ số 2 có diện tích là 229 m2 và các công trình trên đất là phần nhà mà khi mua của cụ T xây vẫn còn cho đến hiện nay. Đề nghị xem xét tính công sức quản lý, giữ gìn tài sản, là người sống lâu năm và ổn định trên 30 năm ở trên đất, đóng thuế, với công sức tương ứng cho bà N1 được hưởng bằng 1/3 trị giá thửa đất tranh chấp (tương ứng số tiền 563.340.000 đồng/3 = 187.780.000 đ) và xem xét cho bà N1 được hưởng bằng hiện vật là một phần đất để bà có thể đảm bảo chỗ ở hiện nay. Về án phí, chi phí định giá thẩm định: căn cứ các điều 147, 157, 165 BLTTDS, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 NQ 326 về án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí, tuy nhiên bà N1 là người cao tuổi nên đề nghị xem xét miễn án phí cho bà N1 và bà N1 có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông H3 chi phí định giá thẩm định đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn ông H3, bà H1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà N1 trả lại thửa đất số 675 (theo bản đồ năm 2007) và tài sản trên đất có địa chỉ tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình, đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Nguyên đơn ông H3, bà H1 trình bày thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 642 (theo bản đồ 299) và là thửa 675 (theo bản đồ năm 2007) tại thôn A do ông H3 mua lại của cụ Nguyễn Thị T tháng 02/1987. Cuối năm 1988, ông Phạm Văn G xin ở nhờ trên thửa đất và hẹn khi nào con trai ông H3 trưởng thành sẽ trả lại nhà đất. Khi ông G lấy bà N1 về ở trên đất, vì hoàn cảnh ông G bệnh tật, sau khi ông G mất, bà N1 một mình nuôi hai con nhỏ nên ông H3, bà H1 chưa nói gì về việc đòi lại nhà đất. Nay xảy ra tranh chấp, ông H3, bà H1 yêu cầu bà N1 phải trả lại đất và ngôi nhà trên đất. Đối với những tài sản bà N1 đã xây dựng, ông H3 sẽ thanh toán lại cho bà N1. Bị đơn bà N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho rằng nguồn gốc đất của cụ Nguyễn Thị T, việc ông H3, ông S đứng lên làm giấy tờ mua bán chỉ là thay mặt bố mẹ mua bán đất, do đó thửa đất đang tranh chấp hiện nay là của các cụ để lại cho ông G, bà N1. Giữa ông H3 và ông G có thỏa thuận từ trước về việc ông H3, bà H1 tiếp quản tài sản và sinh sống trên thửa đất của các cụ để lại tại thửa số 48 (bản đồ 299) tại thôn A còn ông G ở trên thửa đất 642 (thửa đất 675 hiện nay). Quá trình sinh sống, ông G, bà N1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, phí với Nhà nước, đã cải tạo, xây dựng và sửa chữa ngôi nhà nhiều lần nhưng ông H3, bà H1 không có ý kiến phản đối. Do đó, bà N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Theo bản đồ và sổ mục kê 299 lưu trữ tại UBND xã A, những thửa đất mang tên cụ Nguyễn Thị T bao gồm: mảnh đất có nhà ở số thửa 642, diện tích 230m², nằm ở phía Bắc ngõ vào nhà ông B, 01 mảnh đất vườn có số thửa 643, diện tích 25m² và 01 mảnh đất dược mạ số thửa 496, diện tích 145m² đều có địa chỉ tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ngày 01/3/1987, ông Nguyễn Thu S thay mặt cụ T đứng lên viết “Đơn xin phép bán nhà và trả lại đất” với nội dung: “Gia đình tôi có ngôi nhà ngói 4 gian và 1 số công trình phụ đang sử dụng từ trước đến nay. Do mẹ già, tôi lại công tác xa, tôi không thể về để ở tại quê hương được. Gia đình tôi quyết định bán gia tài này cho em con bà cô Phạm Thế H3 với giá (việc thanh toán tiền anh em tôi sẽ làm việc cụ thể với nhau). Gia đình tôi chính thức bàn giao quyền sở hữu cho chú Phạm Thế H3 kể từ ngày 08-3-1987 (tức là ngày 09-2 âm lịch – ngày bố tôi mất vừa tròn 8 năm). Và cũng trả lại đất đai thổ cư của Nhà nước cho chính quyền kể từ ngày nói trên”. Đơn có xác nhận của UBND xã T như sau: “Xét đơn trình bày của ông Nguyễn Thu S là sự thật về hoàn cảnh hiện nay. U cho ông S được bán nhượng số tài sản cho ông Phạm Huy . Yêu cầu hai bên phải thỏa thuận về giá cả, sau này xảy ra vấn đề gì hai bên có trách nhiệm trước UBND xã”. Cùng ngày, ông S cũng viết hộ ông H3 “Đơn xin đất” gửi UBND xã với nội dung xin phép cho ông H3 được quyền sở hữu gia tài đất đai thổ cư xung quanh ngôi nhà ngói 4 gian mà ông H3 mua. Ngày 05/4/1987, UBND xã T xác nhận trong Đơn xin đất: “Xét đơn đề nghị xin 1 phần đất ở đã được trình bày trên. U cấp cho ông Phạm H3 và được sử dụng kể từ ngày ký nhưng yêu cầu phải nộp lệ phí trước bạ cho ban quản lý ruộng đất theo quy định...”. Tại phiên tòa, ông H3 trình bày đã thực hiện nghĩa vụ lệ phí ngay thời điểm đó nhưng vì thời gian đã quá lâu, ông không giữ được tài liệu chứng minh. Theo tinh thần Hiến pháp 1980 và pháp luật đất đai trước năm 1987 có hiệu lực tại thời điểm giao đất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, việc mua bán quyền sử dụng đất bị hạn chế và không được công nhận là hợp pháp. Như vậy, năm 1987, ông H3 chỉ được mua bán nhà ở, tài sản trên đất. Việc người bán viết đơn trả lại đất và người mua viết đơn xin đất, có xác nhận của chính quyền địa phương là hình thức thể hiện việc mua bán nhà giữa ông S và ông H3 là có thực, đúng quy định của pháp luật. Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực và các văn bản luật về đất đai sau này đều cho phép và hợp pháp hóa việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ T và những người con của cụ T đều biết việc mua bán, bàn giao nhà ở và quyền sử dụng đất cho gia đình ông H3 sử dụng từ năm 1987 đến nay mà không có ý kiến, tranh chấp về đất và tài sản trên đất. Như vậy, đến nay, cần công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ T, ông S và ông H3.

[2.3]. Về việc thanh toán tiền mua bán nhà thì thấy, tại đơn phản hồi ngày 15/11/2024, bà N1 trình bày: “Khi về làm dâu, tôi và chồng tôi vẫn phải thanh toán một số khoản nợ liên quan đến việc mua đất và căn nhà này” nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2025, bà N1 lại khai “cụ T bán đất cho ai thì tôi không biết”, tại phiên tòa, bà không làm rõ được số tiền mua đất hay khoản nợ mà ông G và bà N1 phải trả liên quan đến việc mua đất. Tại phiên tòa, ông H3 trình bày việc ông mua thửa đất với giá 250.000 đồng nhưng ông chỉ giao 205.000 đồng, còn thiếu 45.000 đồng. Đến tháng 5/1987 sau vụ thuốc lào ông mới đủ tiền trả cụ T. Bà Phạm Thị R khẳng định lúc ông H3 mua nhà, ông G đi bộ đội, tiền mua nhà đất là của vợ chồng ông H3 chứ bố mẹ bà chỉ làm ruộng lại già yếu, cụ N2 bị bệnh tâm thần sống phụ thuộc vào vợ chồng ông H3, nên không có tiền đưa cho ông H3 mua nhà được. Lời khai của ông S thể hiện ông không biết cụ T bán đất bao nhiêu tiền, nhận tiền từ ai mà cụ T chỉ nói ông S khi nào từ Quảng Ninh về thì viết giấy bán đất cho ông H3. Lời khai của các đương sự về việc thanh toán tiền mua nhà có mâu thuẫn và đều không có căn cứ chứng minh cụ thể. Như vậy, căn cứ vào nội dung Đơn xin phép bán nhà và trả lại đất, căn cứ lời khai của những người làm chứng, có cơ sở khẳng định ông H3 là người thanh toán tiền mua nhà và tài sản của cụ T, việc bà N1 cho rằng ông H3 thay mặt cụ T1, và cụ N2 đứng lên mua đất và thửa đất đang tranh chấp là của cụ T1, cụ N2 để lại là không có cơ sở.

[2.4]. Bà N3, chị H2, chị C đều cho rằng có thỏa thuận giữa cụ T1, cụ N2, ông H3 và ông G về việc mỗi người một thửa đất, thửa đất 675 tại thôn A mua của cụ T cho ông G, bà N3 sử dụng còn thửa đất số 48 (theo bản đồ 299) tại thôn A cho ông H3, bà H1 sử dụng nhưng bà N3 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Bà Phạm Thị R khẳng định chưa bao giờ nghe thấy cụ T1, cụ N2 nói đến thỏa thuận về việc chia đất cho hai người con trai, mỗi người một thửa đất, một cơ nghiệp như bà N3 trình bày và bà R đã từng nhắc về việc nhà và thửa đất 675 là tài sản do ông H3 mua cho bà N3 nghe. Do đó không có đủ cơ sở để khẳng định về việc có thỏa thuận chia đất như bà N3 trình bày.

[2.5]. Năm 2001, ông H3 bán thửa đất số 643 (theo bản đồ 299) cho bà Lê Thị R1, bà N3 không biết và không có ý kiến gì. Năm 2009 ông H3 bán thửa đất số 48 (bản đồ 299) loại đất dược mạ, diện tích 145m² đối diện đường, bà N3, chị H2, chị C biết và không có ý kiến gì. Giữa nguyên đơn, bị đơn và những người mua hai thửa đất trên không có tranh chấp và không yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6]. Từ những nhận định nêu trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H3, bà H1 về việc đòi lại quyền sử dụng thửa đất số 675 và tài sản trên đất.

[2.7]. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng, mặc dù có đủ căn cứ xác định ông H3 là người mua nhà đất nhưng ông H3 đã giao cho ông G, bà N3 sử dụng từ năm 1989 đến nay đã 36 năm,. Từ khi sinh sống trên đất, ông G đã xây 01 chuồng lợn, 01 nhà bếp. Năm 2009 bà N3 xây lại tường vây xung quanh nhà, bể nước mưa, sân. Năm 2014, bà N3 tiếp tục xây thêm 01 nhà tắm mới, đảo ngói nhà chính và xây thêm một hệ thống công trình phụ. Quá trình sử dụng đất, bà N3 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H2, chị C không biết về thỏa thuận ông G mượn nhà đất để ở như lời ông H3 khai mà vẫn sinh sống trên đất, quản lý, giữ gìn đất, tài sản trên đất và thực hiện đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước. Năm 2007, khi Nhà nước thực hiện đo đạc và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, bà N3 là người đứng tên sử dụng, ông H3, bà H1 ở cùng địa phương và thường xuyên qua lại nhưng không thực hiện việc kê khai. Như vậy, cần xem xét tính cho gia đình bà N3 một phần công sức quản lý, giữ gìn tài sản và xem xét thực tế bà N3 đang là người duy nhất sử dụng thửa đất, hiện nay không có chỗ ở nào khác để giao cho bà N3 được quyền sử dụng diện tích đất có các công trình nhà ở và công trình phụ với diện tích 112,7m² trị giá 277.242.000 đồng. Giao phần đất phía trước nhà giáp ngõ đi có diện tích 52m² và phần đất phía sau nhà giáp đất bà Nguyễn Thị T3 cho ông H3 có diện tích 64,3m², tổng diện tích đất giao cho ông H3 là 116,3m², trị giá 286.098.000 đồng. Ông H3 có trách nhiệm thanh toán cho bà N3 giá trị cây trồng trên đất được giao gồm 01 cây khế trị giá 450.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 250.000 đồng, 01 cây hồng xiêm trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 1.200.000 đồng.

[2.8]. Về chi phí tố tụng:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bà N3 là người đủ 60 tuổi trở lên, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông H3 đã nộp 7.900.000 đồng tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Do yêu cầu khởi kiện của ông H3 được chấp nhận nên bà N3 phải hoàn trả lại cho ông H3 số tiền trên.

[2.9]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166; Điều 579; Điều 580; Điều 583 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 1; Điều 16; Điều 17 Luật Đất đai năm 1987;

Căn cứ khoản 47 Điều 3; Điều 26; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị Hoài .1 Buộc bà Lê Thị N1 phải trả lại cho ông Phạm Văn H phần diện tích đất ký hiệu S1 = 64,3m², loại đất ONT và phần diện tích đất ký hiệu S3 = 52m², loại đất ONT. Tổng diện tích sử dụng 116,3m², trị giá 286.098.000 đồng thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có sơ đồ kèm theo bản án)
  2. Ông H, bà H1 phải thanh toán cho bà N1 giá trị cây trồng gồm 01 cây khế trị giá 450.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 250.000 đồng, 01 cây hồng xiêm trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 1.200.000 đồng.

  3. Giao cho bà Lê Thị N1 được quyền sử dụng phần diện tích đất S2 = 112,7m², loại đất ONT trị giá 277.242.000 đồng thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có sơ đồ kèm theo bản án)
  4. Về chi phí tố tụng:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà N3 phải hoàn trả lại cho ông H số tiền 7.900.000 đồng tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
  5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Ông H, bà H1, anh N, bà N3, chị H2, chị C được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 13/6/2025.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

 

Vũ Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về kiện đòi quyền sử dụng đất và nhà trên đất

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi quyền sử dụng đất và nhà trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H kiện Lê Thị N1 về việc kiện đòi quyền sử dụng đẩt và nhà ở trên đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger