Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 07/2025/DS-ST

Ngày: 09-4-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thị Lan

Ông Tạ Văn Thạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QÐST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1964 (có mặt).

Bà Lê Thị T, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1946 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã B, huyện T.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn H - Chủ tịch UBND xã B

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L – Cán bộ công chức Địa chính xã B, huyện T. (Văn bản ủy quyền số 06/GUQ-UBND ngày 26/11/2024 của Chủ tịch UBND xã B, huyện T). (Có đơn xin xử vắng mặt).

  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975 (vắng mặt) .

    Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

  3. Bà Phạm Thị Tuyết T1, sinh năm 1988.
  4. Ông Phạm Hữu Á, sinh năm 1991.
  5. Ông Phạm Hữu T2, sinh năm 1993.

    Cùng địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. (bà T1, ông Á, ông T2 có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Phạm Văn C trình bày:

Thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 2, diện tích 860/950m², loại đất màu, tọa lạc xóm E, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định hộ gia đình ông được Nhà nước giao đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/5/1998 đứng tên hộ ông Phạm Văn C. Thời điểm nhà nước giao đất cho hộ gồm: ông Phạm Văn C, vợ Lê Thị T và các con Phạm Thị Tuyết T1, sinh năm 1988; Phạm Hữu Á, sinh năm 1991; Phạm Hữu T2, sinh năm 1993. Sau khi cấp đất UBND xã B không chỉ đất cho gia đình ông biết nên diện tích đất trên ông Nguyễn Thanh N có thửa đất gần đó đã chiếm dụng sử dụng đất và cho ông Nguyễn Văn H1 thuê đất trồng đậu phộng. Sau đó ông đến địa chính xã T hỏi thì biết đất của ông nên ông có gặp ông N để yêu cầu trả đất là năm 2018 vợ ông N bà N1 còn sống có nói đất của ông thì trả cho ông, nhưng ông N không đồng ý trả, ông N yêu cầu được đổi đất với ông N ở thửa đất khác, nhưng ông không đồng ý. Diện tích thửa đất có thay đổi hay không thì ông không biết, ông chỉ biết giới cận hướng Đông giáp đất ông N; hướng Tây giáp mương nước; hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Đ; hướng Bắc giáp mương nước. Nay ông yêu cầu ông N phải trả lại thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 2 mà Nhà nước đã cấp cho gia đình ông có diện tích 860m² và yêu cầu ông H1 phải thu hoạch hoa màu để trả lại đất cho gia đình ông, còn diện tích 90m² là đất của UBND xã B ông không có yêu cầu gì.

Tại các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thanh N trình bày:

Ông có 01 vườn đất của ông bà để lại, đến năm 1995 Nhà nước cấp cho ông trong vườn đất tổng cộng gò mã và hết cả đất hoa màu là 11 sào, khoảng năm 1995 Ban giao đất cấp cho ông 0 sào, mà còn cấp cho ông C 900m2 ở trong khu vườn của ông, thời điểm hộ gia đình ông có 04 nhân khẩu, tại sao đất quy chủ của ông lại cấp cho người khác, trong khi đó ông còn thiếu đất, đem cấp chỗ khác là 03 sào ở vườn bà Trương Thị Nho . Nay đất ông còn thiếu tại sao lấy đất ông cấp cho ông C, đất ông đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng năm 2019 sửa nhà nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thất lạc, khi xã hòa giải ông có đề nghị đổi đất nhưng ông N không đồng ý. Hiện thửa đất đang tranh chấp ông đã cho ông Nguyễn Văn H1 ở cùng địa phương thuê để trồng cây đậu phộng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã B, đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn L trình bày:

  • Nguồn gốc thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 02 của hộ ông Phạm Văn C được Nhà nước cấp theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ có diện tích 860/950m² đất màu. Tại thời điểm đất cấp cho hộ ông Phạm Văn C, gồm có 05 nhân khẩu: ông Phạm Văn C, vợ Lê Thị T, các con ông C, bà T gồm: chị Phạm Thị Tuyết T1, sinh năm 1988; anh Phạm Hữu Á, sinh năm 1991; anh Phạm Hữu T2, sinh năm 1993. Hội đồng giao đất giao đủ tiêu chuẩn nhân khẩu đối với đất nông nghiệp cho hộ ông C 860m², còn lại 90m² đất màu do UBND xã B quản lý nên lý do có việc ghi 860/950m².
  • Theo bản đồ cũ 299 thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 02 có diện tích 860/950m². Theo bản đồ mới VN2000 là thửa số 83, tờ bản đồ số 41 có diện tích ĐM 938m², hộ ông C vẫn được cấp là 860m² đất màu, còn 78m² đất màu còn lại là UBND xã B. Vị trí đất màu tại thửa 83 mà UBND xã B quản lý nằm phía bắc thửa đất, hiện nay diện tích 78m² đất màu vẫn còn chung thửa 83 chưa tách rời.
  • Theo đo đạc do Công ty cổ phần T3 thực hiện ngày 29/5/2024 tại thửa số 83, tờ bản đồ số 41 có diện tích 937,7m² nên diện tích đất màu mà UBND xã B quản lý còn là 77,7m².
  • Ý kiến của UBND xã B đối với diện tích đất mà UBND xã đang quản lý trong thửa số 105A tờ bản đồ số 02 (cũ), thửa số 83, tờ bản đồ số 41 (mới) có chênh lệch: Đối với diện tích theo bản đồ 299 tại thửa 105A tờ bản đồ số 02, diện tích 860/950m² thì diện tích đất bị thiếu là 12,3m². Còn so với bản đồ VN2000 tại thửa số 83, tờ bản đồ số 41, diện tích ĐM 938m² thì diện tích đất bị thiếu là 0,3m². Về hiện trạng và ranh giới đất vẫn giữ nguyên không thay đổi nên việc có chênh lệch diện tích là do sai số trong quá trình đo đạc. Ranh giới liền kề của các thửa đất liền kề là thửa số 104A, 104B và 105B không thay đổi và các hộ liền kề không có tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tuyết T1, ông Phạm Hữu Á, ông Phạm Hữu T2 trình bày: Các anh chị đều thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của bị đơn ông Phạm Văn C, bà Lê Thị Tình yêu C1 ông Nguyễn Thanh N trả lại thửa đất số 105A (mới 83), tờ bản đồ số 2 (mới 41) diện tích là 860m² tọa lạc tại T, Bình Thuận, T, Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Văn H1, nhưng trong thời hạn theo luật định ông Nguyễn Văn H1 không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông H1 đến làm việc cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng ông H1 không hợp tác nên Tòa án không thể lấy lời khai của ông H1 đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C.

Tại phiên tòa ông N khai ông H1 có nhận được các giấy triệu tập của Tòa án có biết việc tranh chấp giữa ông C và ông N nhưng ông H1 nói đất của ông N nên không đến Tòa án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tuy nhiên ông H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông H1. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ vào các Điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024. Buộc ông Nguyễn Thanh N phải trả lại diện tích đất 860m² tọa lạc tại thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 8/5/1998 cho hộ ông Phạm Văn C tại thửa số 105A tờ bản đồ số 02 (cũ), thửa số 83, tờ bản đồ số 41 (mới) (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Về chi phí định giá tài sản và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Lê Thị T vắng mặt; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tuyết T1, ông Phạm Hữu Á, Phạm Hữu T2 đại diện UBND xã B có đơn xin xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về yêu cầu tranh chấp đất giữa các đương sự:

Ông Phạm Văn C khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu ông Nguyễn Thanh N phải trả lại diện tích 860m² đất màu tại thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 8/5/1998 có diện tích 860/950m² cho hộ ông Phạm Văn C. Đối với diện tích 90m² là đất của UBND xã B ông không có yêu cầu gì. Ông C yêu cầu ông N chiếm đất của ông cho ông H1 thuê thì ông H1 phải thu hoạch hoa màu trả đất cho ông.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh N thừa nhận ông có sử dụng diện tích đất màu 860m² tại thửa đất số 105A và cho ông Nguyễn Văn H1 thuê đất nhưng ông không biết đất này Nhà nước đã cấp cho hộ ông C, sau khi biết đất đã cấp cho hộ ông C thì ông cũng không có khiếu nại gì. Khi ông C yêu cầu ông trả đất thì ông có đề nghị đổi thửa đất khác của ông cho ông C nhưng ông C không đồng ý.

[3] Về nguồn gốc đất các bên đang tranh chấp:

Xét nguồn gốc thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 02 của hộ ông Phạm Văn C được Nhà nước cấp theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ có diện tích 860/950m² đất màu. Tại thời điểm đất cấp cho hộ ông Phạm Văn C, gồm có 05 nhân khẩu: ông Phạm Văn C, vợ Lê Thị T, các con ông C, bà T gồm: Phạm Thị Tuyết T1, sinh năm 1988; Phạm Hữu Á, sinh năm 1991; Phạm Hữu T2, sinh năm 1993 để chia đất nông nghiệp. Do đó, những người có tên trong sổ hộ khẩu gia đình ông Phạm Văn C vào thời điểm Nhà nước giao đất có quyền sử dụng đất. Hội đồng giao đất giao đủ tiêu chuẩn nhân khẩu đối với đất nông nghiệp cho hộ ông C 860m², còn lại 90m² đất màu do UBND xã B quản lý nên lý do có việc ghi 860/950m².

- Theo bản đồ cũ 299 thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 02 có diện tích 860/950m². Theo bản đồ mới VN2000 là thửa số 83, tờ bản đồ số 41 có diện tích ĐM 938m², hộ ông C vẫn được cấp là 860m² đất màu, còn 78m² đất màu còn lại là UBND xã B. Vị trí đất màu tại thửa 93 mà UBND xã B quản lý nằm phía bắc thửa đất, hiện nay diện tích 78m² đất màu vẫn còn chung thửa 83 chưa tách rời.

[4] Về diện tích đất đang tranh chấp và tài sản có trên đất:

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp vào ngày 26/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, theo trích đo hiện trạng thửa đất của hộ ông Phạm Văn C thuộc thửa đất số 105A, tờ bản đồ số 2 nay là thửa số 83, tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích 937,7m², trong đó: Phần A (thuộc GCNQSDĐ) 860m², phần B (thuộc đất công ích) 77,7m².

Tại phiên tòa hôm nay hai bên đều thống nhất theo sơ đồ bản vẽ và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, không yêu cầu đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Tại Biên bản làm việc số 02/BBXM ngày 28/11/2024, UBND xã B đã cung cấp: Theo đo đạc do Công ty cổ phần T3 thực hiện ngày 29/5/2024 tại thửa số 83, tờ bản đồ số 41 có diện tích 937,7m² nên diện tích đất màu mà UBND xã B quản lý còn là 77,7m².

Ý kiến của UBND xã B đối với diện tích đất mà UBND xã đang quản lý trong thửa số 105A tờ bản đồ số 02 (cũ), thửa số 83, tờ bản đồ số 41 (mới) có chênh lệch: Đối với diện tích theo bản đồ 299 tại thửa 105A tờ bản đồ số 02, diện tích 860/950m² thì diện tích đất bị thiếu là 12,3m². Còn so với bản đồ VN2000 tại thửa số 83, tờ bản đồ số 41, diện tích ĐM 938m² thì diện tích đất bị thiếu là 0,3m². Về hiện trạng và ranh giới đất vẫn giữ nguyên không thay đổi nên việc có chênh lệch diện tích là do sai số trong quá trình đo đạc. Ranh giới liền kề của các thửa đất liền kề là thửa số 104A, 104B và 105B không thay đổi và các hộ liền kề không có tranh chấp.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2024 quy định “Được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình”; Điều 31 Luật đất đai năm 2024 quy định “Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất.....” Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, ...buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản...”. Do đó, hộ ông Phạm Văn C yêu cầu ông Nguyễn Thanh N phải trả lại diện tích 860 m² đất màu tại thửa số 105A tờ bản đồ số 02 (cũ), thửa số 83, tờ bản đồ số 41 (mới) tọa lạc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định do UBND huyện T cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 8/5/1998 cho hộ ông Phạm Văn C được sử dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C, bà Lê Thị T.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh N đồng ý trả diện tích đất màu 860m² tại thửa đất số 105A cho hộ ông C nhưng yêu cầu ông C cho ông Nguyễn Văn H1 thời gian thu hoạch đậu phộng vì ông cho ông H1 thuê 12 năm với số tiền 40.000.000 đồng hiện ông H1 đang trồng cây đậu phộng gần thu hoạch. Ông sẽ nói ông H1 thu hoạch hoa màu để trả đất cho hộ ông C.

Hai bên thống nhất thời gian để ông H1 thu hoạch cây đậu phộng là 30 ngày đến ngày 9/5/2025 ông H1 phải thu hoạch xong hoa màu trên diện tích 860m² tại thửa số 83 tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại thôn T, xã B. Sau khi thu hoạch ông H1 không được trồng bất cứ cây gì trên đất, nếu trồng thì phải tự chịu trách nhiệm.

Đối với việc ông N cho ông H1 thuê đất trồng hoa màu thì giữa hai bên tự thỏa thuận giải quyết, HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Thanh N thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Văn C số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007525 ngày 09/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

[6] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 6.000.000 đồng. Ông Nguyễn Thanh N phải chịu 6.000.000 đồng. Ông Phạm Văn C đã nộp tạm ứng số tiền 6.000.000 đồng nên ông N phải trả lại cho ông C số tiền 6.000.000 đồng.

[7] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 163, 164, 166, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miên, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Nguyễn Thanh N phải trả lại diện tích 860m² đất màu của thửa đất số 83, tờ bản đồ số 41 tại thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện T cấp ngày 8/5/1998 cho hộ ông Phạm Văn C được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  2. Ông Nguyễn Văn H1 phải thu hoạch hoa màu để trả lại diện tích đất 860m² cho hộ ông Phạm Văn C, bà Lê Thị T trong thời gian 30 ngày đến ngày 9/5/2025 phải thu hoạch xong hoa màu trồng trên diện tích 860m² tại thửa số 83 tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại thôn T, xã B. Sau khi thu hoạch ông H1 không được trồng bất cứ cây gì trên đất, nếu trồng thì phải tự chịu trách nhiệm.
  3. Về án phí:
    1. Ông Nguyễn Thanh N không phải nộp án phí sơ thẩm.
    2. Hoàn trả cho ông Phạm Văn C số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007525 ngày 09/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
  4. Về chi phí tố tụng:

    Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản ông Nguyễn Thanh C2 phải chịu 6.000.000 đồng. Ông Phạm Văn C đã nộp tạm ứng số tiền 6.000.000 đồng nên ông N phải trả lại cho ông C số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông C yêu cầu ông N trả đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger