|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 07/2025/DS-PT Ngày: 20-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư
Ông Bùi Quang Năng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐ – PT ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 12/TB-TA ngày 12/02/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N (A1); địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình T; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N Chi nhánh T5; Địa chỉ: Số B L, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Minh T1 – Phó Giám đốc Ngân hàng N Chi nhánh T5. Có mặt.
* Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng C, sinh năm 1973; địa chỉ: Số nhà H đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn C1, bà Trần Thị H, bà Đặng Thị Phương A – Luật sư Công ty L- Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số B, đường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Đình G – Luật sư Công ty L1- Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số B, đường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Bà A, ông G có mặt; ông C1, bà H vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trần P, sinh ngày 15/02/2004; địa chỉ: Số nhà H đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: Trường T6 - Xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt – Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trần T2, sinh năm 26/7/2006; địa chỉ: Số nhà H đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt- Có đơn đề nghị vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Minh T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Số nhà H N, tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Hồng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng N (A1) trình bày: Bà Trần Thị Hồng C đã ký kết hợp đồng tín dụng số 3715LAV202001721 ngày 17/09/2020 với Ngân hàng N - Chi nhánh T5 vay số tiền: 4.150.000.000 đồng, Thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày 18/9/2020 đến ngày 17/9/2021, lãi suất 6.5%/năm với mục đích sử dụng tiền vay: Bù đắp chi phí mua đất ở, bù đắp chi phí mua vật liệu trả tiền nhân công và chi phí khác để cải tạo nhà. Lãi suất được điều chỉnh xuống 5,5%/năm từ ngày 29/01/2021, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng N đã giải ngân đủ cho bà Trần Thị Hồng C số tiền 4.150.000.000 đồng vào ngày 17/9/2020 theo Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ kèm theo Hợp đồng tín dụng ngày 17/9/2020. Ngày 17/9/2021, hai bên ký Phụ lục hợp đồng số 17092021/PLHĐTD với nội dung gia hạn nợ đến ngày 17/9/2022.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 150; Tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nhà xây 3 tầng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 797515 do UBND thành phố H cấp ngày 06/9/2013 mang tên ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 66/2020/HĐTC ngày 16 tháng 09 năm 2020 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng N Chi nhánh T5 với bên thế chấp Bà Trần Thị Hồng C (Kèm theo văn bản thỏa thuận giao quyền định đoạt di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh H1 ngày 26/8/2020).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị Hồng C đã thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp số tiền là: Nợ gốc 44.000.000 đồng, Nợ lãi: 188.470.996 đồng, Tổng cộng: 232.470.996 đồng; Hợp đồng đã quá hạn kể từ ngày 18/09/2022 nhưng bà C chưa trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 30/9/2024, bà Trần Thị Hồng C còn nợ Ngân hàng nông nghiệp số tiền là: Nợ gốc 4.106.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn 977.915.977 đồng, tổng cộng là 5.083.915.977 đồng.
Ngân hàng N chi nhánh T5 yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Trần Thị Hồng C phải thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 5.083.915.977 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến khi thanh toán xong nợ theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa 02 bên. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị Hồng C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 150; Tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 797515 do UBND thành phố H cấp ngày 06/9/2013 mang tên ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C để thu hồi nợ.
- Bị đơn bà Trần Thị Hồng C tại bản tự khai ngày 19/3/2024 và Biên bản hòa giải ngày 15/5/2024 có ý kiến trình bày:
Trước đây, chồng bà C là ông Nguyễn Thanh H1 mở Công ty TNHH D đã vay của Ngân hàng N số tiền 4.000.000.000 đồng để kinh doanh, vợ chồng ông H1 bà C đã thế chấp tài sản là nhà và đất thuộc quyền quản lý sử dụng của cả 2 vợ chồng tại số H đường N, phường T, thành phố H để đảm bảo khoản vay. Đến ngày 07/02/2020, ông H1 bị chết do đột quỵ. Sau khi ông H1 chết, bà C đã làm đơn xin miễn lãi và giản thời gian trả nợ gốc gửi Ngân hàng N chi nhánh T5. Sau đó ngân hàng chuyển toàn bộ khoản nợ sang cho bà C và lập hồ sơ tín dụng yêu cầu bà C ký. Trong Hợp đồng tín dụng ghi mục đích bà C vay tiền để mua đất làm nhà, trả tiền công thợ xi măng đất cát là không đúng. Bà C thừa nhận đã ký tất cả các giấy tờ liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản nhưng bà C không nhận được số tiền vay 4.150.000.000 đồng từ ngân hàng. Bản thân bà C không có khoản thu nhập nào để vay số tiền này hay để kinh doanh gì. Trong thời gian ông H1 vay đã trả lãi cho ngân hàng Đ, sau này do ông H1 chết, bà C không có khả năng trả nợ. Bà C thừa nhận số tiền nợ như Ngân hàng N trình bày. Bà C trình bày bà không có ý định trốn tránh hay chạy nợ, bà đã rao bán nhà để trả nợ ngân hàng nhưng chưa bán được. Bà C yêu cầu được tự bán tài sản, bà không đồng ý bàn giao tài sản trên cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ cho ngân hàng. Tại Biên bản hòa giải ngày 27/8/2024, bà C không thừa nhận khoản nợ trên và không đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà C trình bày chấp nhận trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc, không chấp thanh toán tiền lãi và không đồng ý bàn giao tài sản thế chấp để xử lý thu hồi nợ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trần P tại bản tự khai ngày 11/7/2024 có ý kiến trình bày:
Anh là con trai của ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C. Vào năm 2020, ông Nguyễn Thanh H1 chết. Thửa đất số 150 tờ bản đồ số 12 tại tổ dân phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và tài sản gắn liền với đất là tài sản do ông H1 và bà C tạo lập. Sau khi ông H1 chết thì gia đình anh P vẫn đang sinh sống tại khu đất trên. Anh P đã vào chùa và xuất gia theo Giáo hội P1, anh P từ chối khai các nội dung khác và không thể tham gia các phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh T3 tại biên bản lấy lời khai ngày 07/8/2024 có ý kiến trình bày:
Năm 2020 bà T3 thuê tầng 1 ngôi nhà của bà Trần Thị Hồng C để kinh doanh đồ gỗ nội thất. Đến năm 2021, bà T3 chấm dứt việc thuê nhà một thời gian sau đó tiếp tục thuê lại. Giữa bà T3 và bà C không làm Hợp đồng thuê nhà, không thỏa thuận về thời hạn thuê mà trả tiền thuê theo tháng, khi nào bà C cần lấy nhà thì bà T3 trả mặt bằng. Hiện tại mỗi tháng bà T3 trả cho bà C 10.000.000 đồng tiền thuê nhà. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc xử lý tài sản thế chấp là ngôi nhà của bà C tại địa chỉ số H, đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, bà T3 đồng ý dời dọn toàn bộ tài sản của bà T3 trong ngôi nhà trên để trả lại mặt bằng khi bà C hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Bà T3 đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trần T2 nhưng anh T2 không có mặt nên không ghi nhận được ý kiến của anh T2.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên toà cấp sơ thẩm đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để triệu tập bà Nguyễn Thị Thu H2 có số tài khoản 3715205089990 mở tại Ngân hàng N chi nhánh T5 để làm rõ việc giải ngân, triệu tập Văn phòng Đ1 chi nhánh Thành phố T5 để làm rõ nội dung sai khác về ngày của hợp đồng thế chấp trong Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp; đồng thời phát biểu quan điểm Văn bản thỏa thuận giao quyền định đoạt di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh H1 không hợp pháp, Hợp đồng thế chấp được đăng ký thế chấp là hợp đồng khác nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ Điều 167, 168, 188 Luật đất đai; các Điều 463, 465, 295, 298, khoản 1 Điều 299, Điều 301, khoản 2 Điều 303, 317, 318, 319, 320, 323 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ; điểm c, d khoản 2 Điều 24, điểm đ khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNH ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1; Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.3 khoản 1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh T3, anh Nguyễn Trần T2 và anh Nguyễn Trần P.
2. Buộc bị đơn bà Trần Thị Hồng C phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc 4.106.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn 977.915.977 đồng, tổng cộng là 5.083.915.977 đồng (Năm tỷ không trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười lăm ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Hồng C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 66/2020/HĐTC ngày 16 tháng 09 năm 2020 giữa Bên thế chấp Bà Trần Thị Hồng C với bên nhận thế chấp Ngân hàng N có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bà Trần Thị Hồng C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đất tại thửa đất số 150, tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 797515 ngày 06/9/2013 mang tên ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C để thu hồi nợ theo quy định pháp luật (diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 232,6m2, diện tích đất được sử dụng là 213,8m2).
Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 11/10/2024 bị đơn bà Trần Thị Hồng C kháng cáo bản án số 14/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh với lý do:
+ Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, nhận định chưa khách quan, chưa đầy đủ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà và các con.
+ Tòa án chưa làm rõ việc giải ngân khoản tiền vay theo Hợp đồng tín dụng giữa bà với Ngân hàng vì việc bà ký các giấy tờ là để chuyển khoản vay của chồng bà sang cho bà. Cá nhân bà không nhận một đồng nào được giải ngân từ Ngân hàng. Thực tế bà chưa nhận tiền và cũng không biết bà Nguyễn Thị Thu H2 mà Ngân hàng chỉ định chuyển khoản là ai và đã chuyển khoản giải ngân chưa.
+ Việc Ngân hàng làm các giấy tờ để các con tôi ký thỏa thuận thừa kế và ký ủy quyền cho bà vay vốn Ngân hàng là trái với quy định pháp luật vì thời điểm đó con bà chưa đủ 18 tuổi, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện các thủ tục này.
+ Tòa án cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp có hiệu lực là không đúng pháp luật vì chưa làm rõ quá trình giải ngân, bản thân bà thời điểm đó chưa đủ thẩm quyền để ký Hợp đồng thế chấp vì chưa làm đầy đủ thủ tục thừa kế của chồng bà.
+ Bản án sơ thẩm áp dụng chưa đúng pháp luật, chưa đúng nội dung và chưa đúng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vẫn giữa nguyên đơn nội dung đơn kháng cáo, đồng thời đề nghị Ngân hàng xem xét tạo điều kiện để bà trả khoản nợ gốc, không phải trả khoản tiền lãi và cho bà được tự xử lý tài sản để trả nợ cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Hồng C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn gửi đến Toà án cấp sơ thẩm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Nguyên đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn bà Trần Thị Hồng C đăng ký cư trú tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của đương sự.
Tại phiên toà phúc thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trần P, anh Nguyễn Trần T2, bà Nguyễn Thị Minh T3 vắng mặt. Tuy nhiên anh P, anh T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T3 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đây là phiên toà mở lần thứ 2, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227; Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1]. Về yêu cầu trả số tiền nợ gốc còn lại và lãi của Ngân hàng N chi nhánh T5:
Ngày 17/09/2020 Ngân hàng N chi nhánh T5 và bà Trần Thị Hồng C đã ký hợp đồng tín dụng số 3715LAV20200172. Tại thời điểm ký kết hợp đồng hai bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc và trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng các bên tuân thủ và nhất trí thực hiện không bên nào có ý kiến gì khác. Các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng N chi nhánh T5 và bà Trần Thị Hồng C phù hợp với các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 theo đó hợp đồng này là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Tại Ủy nhiệm chi ngày 17/9/2020 và Phụ lục Hợp đồng về nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ (kèm theo Hợp đồng tín dụng số 3715-LAV-202001721) ngày 17/9/2020 thể hiện: bà Trần Thị Hồng C đã yêu cầu Ngân hàng N chi trả số tiền 4.150.000.000đ cho người thụ hưởng là bà Nguyễn Thị Thu H2, số tài khoản 3715-205089990 mở tại A1 và Ngân hàng đã giải ngân khoản tiền trên. Theo kết quả sao kê tài khoản của bà H2 thì Ngân hàng đã chuyển vào tài khoản bà H2 đầy đủ số tiền trên.
Quá trình từ khi ký kết hợp đồng đến nay, bà C cũng đã thanh toán một số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Đồng thời, ngày 10/12/2021 bà C có đơn gửi Ngân hàng nông nghiệp xin giảm lãi suất và ngày 07/9/2021 bà C có đơn đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ kiêm phương án trả nợ. Tại 02 Đơn đề nghị trên, bà C thừa nhận số tiền gốc 4.150.000.000 đồng và số tiền lãi còn nợ tính đến ngày 17/9/2021 là 213.952.397 đồng. Do vậy, việc bà Trần Thị Hồng C cho rằng Ngân hàng N không giải ngân số tiền trên cho bà C là không có căn cứ.
Về mức lãi suất bà C thừa nhận như Ngân hàng trình bày là đúng. Về số tiền gốc, lãi bà C đã trả theo bảng kê Ngân hàng nông nghiệp cung cấp gồm: số tiền gốc 44.000.000 đồng, tiền lãi 188.470.996 đồng, tổng cộng là 232.470.996 đồng. Bà C trình bày bà đã trả nhiều hơn số tiền trên, không nhớ con số cụ thể nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh.
Theo thoả thuận giữa các bên đến ngày 17/9/2022 bà Trần Thị Hồng C phải thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi khoản vay cho Ngân hàng Nông nghiệp. Việc bà C chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng là vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 3715LAV202001721 ngày 17/09/2020 và Phụ lục hợp đồng số 17092021/PLHĐTD ngày 17/9/2021. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Thị Hồng C cũng thừa nhận bà đã ký tên vào Hợp đồng tín dụng và tất cả các giấy tờ liên quan cũng như số nợ mà Ngân hàng N đã yêu cầu. Do đó, việc Ngân hàng N chi nhánh T5 khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Hồng C có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là: 5.083.915.977 ( trong đó nợ gốc 4.106.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn 977.915.977 đồng) là có cơ sở. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Trần Thị Hồng C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N chi nhánh T5 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là: 5.083.915.977 ( trong đó nợ gốc 4.106.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn 977.915.977 đồng) là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Đồng thời Toà án cấp sơ thẩm buộc bà C tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa 02 bên là đúng quy định pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
- Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 66/2020/HĐTC ngày 16 tháng 09 năm 2020 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng N Chi nhánh T5 với bên thế chấp bà Trần Thị Hồng C được xác lập có nội dung phù hợp quy định tại các Điều 116, 117, 317 Bộ luật Dân sự; Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nhà xây 3 tầng, đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 797515 ngày 06/9/2013 mang tên ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C. Tại Văn bản thỏa thuận giao quyền định đoạt di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh H1 ngày 26/8/2020, bà Trần Thị Hồng C, anh Nguyễn Trần P và anh Nguyễn Trần T2 đã thỏa thuận giao toàn quyền định đoạt di sản của ông Nguyễn Thanh H1 để lại trong khối tài sản chung của ông H1 và bà C gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói trên cho bà C, bà C được quyền tách thửa, tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn ngân hàng. Văn bản trên đã được chứng thực tại UBND phường T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo về nội dung khởi kiện, triệu tập lấy lời khai đối với anh Nguyễn Trần P và anh Nguyễn Trần T2 nhưng anh P và anh T2 không có ý kiến gì; tại cấp phúc thẩm anh P và anh T2 vắng mặt và không có ý kiến về tài sản thế chấp. Do vậy, toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất nói trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bà C. Tài sản thế chấp trên không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, Hợp đồng thế chấp có công chứng, đã thực hiện đăng ký thế chấp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại các Điều 167, 168, 188 Luật đất đai; các Điều 295, 298 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ nên Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Tại Hợp đồng thế chấp các bên đã thỏa thuận dùng tài sản thế chấp nói trên để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các chi phí phát sinh khác của bên thế chấp tại các Hợp đồng cấp tín dụng ký trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng N. Do vậy, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị Hồng C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án bán đấu giá quyền sử dụng đất tại thửa đất số 150, tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để thu hồi nợ cho Ngân hàng N là có căn cứ và hợp pháp. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 299, Điều 301, khoản 2 Điều 303 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp nói trên của bà Trần Thị Hồng C là đúng quy định pháp luật.
- Về diện tích đất: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/8/2024, diện tích kích thước thửa đất có sự sai số, khác so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp (có phần diện tích đất thuộc đường đi và vỉa hè). Theo xác minh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và UBND phường T: Khi làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ xác định tim đường không chính xác, việc đo đạc thủ công bằng thước dây. Theo Văn bản số 751/STNMT-ĐGĐBT ngày 27/3/2018, ranh giới hợp pháp phía tiếp giáp đường Nguyễn Công T4 được xác định theo hồ sơ đo vẽ 371, ranh giới thửa đất giáp các hộ liền kề xác định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Do đó, cấp sơ thẩm xác định diện tích thửa đất được sử dụng là 213,8m2 là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, xét thấy không đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Hồng C.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N chi nhánh T5 được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Hồng C phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (bao gồm cả tiền hợp đồng đo đạc kỹ thuật số) với số tiền là 2.682.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền trên nên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 2.682.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Trần Thị Hồng C trả nợ tổng cộng là 5.083.915.977 đồng được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Hồng C phải chịu 113.084.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Hồng C không được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Hồng C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ Điều 167, 168, 188 Luật đất đai; các Điều 463, 465, 295, 298, khoản 1 Điều 299, Điều 301, khoản 2 Điều 303, 317, 318, 319, 320, 323 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ; điểm c, d khoản 2 Điều 24, điểm đ khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1; Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.3 khoản 1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội, tuyên xử:
1. Buộc bị đơn bà Trần Thị Hồng C phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc 4.106.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn 977.915.977 đồng, tổng cộng là 5.083.915.977 đồng (Năm tỷ không trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười lăm ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Hồng C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 66/2020/HĐTC ngày 16 tháng 09 năm 2020 giữa Bên thế chấp Bà Trần Thị Hồng C với bên nhận thế chấp Ngân hàng N có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bà Trần Thị Hồng C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đất tại thửa đất số 150, tờ bản đồ số 12 tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 797515 ngày 06/9/2013 mang tên ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị Hồng C để thu hồi nợ theo quy định pháp luật (diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 232,6m2, diện tích đất được sử dụng là 213,8m2).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn bà Trần Thị Hồng C phải thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp số tiền 2.682.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị Hồng C phải chịu 113.084.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí 56.385.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0001289 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Trần Thị Hồng C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.0000 đồng đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001039 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh.
6. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |
Bản án số 07/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Hồng C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
