Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-6-2024

V/v "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

2. Bà Nguyễn Thị Diệu Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Minh T - sinh năm 1973(vắng mặt)

Cư trú tại: B L, thành phố Q, tỉnh Bình Định

Bị đơn: anh Phạm Văn T1 - sinh năm 1972(vắng mặt)

Hiện đang cư trú tại: G M, F, V, Hoa Kỳ.

(Chị T, anh T1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh T trình bày:

Chị và anh Phạm Văn T1 kết hôn năm 1997, ly hôn năm 2014 theo Bản án số: 08/2014/HNGĐ-ST ngày 10/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Ngày 17/5/2018 chị và anh T1 tự nguyện đăng ký kết hôn lại tại UBND thành phố Q. Sau khi kết hôn lại, vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2019 anh T1 trở về Mỹ làm việc, từ đó đến nay anh T1 không về Việt Nam thăm vợ con và không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh T1 không quan tâm chia sẻ quay về Việt Nam hay bảo lãnh mẹ con chị qua nước Mỹ. Nay thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm trách nhiệm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, nên yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn T1 để ổn định cuộc sống.

Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Chị và anh Phạm Văn T1 có hai con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh ngày 06/5/2008, sức khỏe hai con bình thường, hiện chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi hai con. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Phạm Văn T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết, vợ chồng không có nợ chung. Việc anh T1 khai có nợ chị không hay biết, không nghe anh T1 nói.

Tại đơn đề nghị hòa giải và xét xử ly hôn vắng mặt được chứng nhận tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở Hoa Kỳ ngày 25/3/2024, bị đơn anh Phạm Văn T1 trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Minh T kết hôn lần thứ nhất năm 1997, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sinh hai người con chung là Phạm Văn K, sinh năm 2007 và phạm Minh Á, sinh năm 2008.

Qua những năm lao động sống trên đất Mỹ, anh có dành dụm ít tiền và vay mượn thêm anh chị em, người thân đã mua được căn nhà thửa đất số: 44, tờ bản đồ số 39, thuộc tổ D, khu V, phường Đ, thành phố Q (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH00551, do UBND thành phố Q cấp ngày 15/12/2010).

Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là trong thời gian này anh chưa được là thường trú nhân ở Hoa Kỳ, không đủ điều kiện để bảo lãnh vợ con, nên năm 2014 chị T đơn phương khởi kiện yêu câu ly hôn, mặc dù lúc đó anh không mong muốn nhưng chị T kiên quyết, dứt khoát nên anh chấp nhận ly hôn theo yêu cầu chị T.

Năm 2018 anh được nước Mỹ công nhận là thường trú nhân, chị T biết việc này và đề nghị nên anh và chị T kết hôn lại lần thứ hai ngày 17/5/2018 tại UBND thành phố Q. Sau đó, anh sang Mỹ và làm hồ sơ bảo lãnh vợ con, đồng thời bàn bạc thống nhất với chị T bán căn nhà tại Việt Nam nói trên để lấy ½ số tiền bán được gửi qua M mua nhà, còn lại ½ để nuôi hai con ăn học trong thời gian chờ bảo lãnh. Tuy nhiên, chị T đổi ý không bán nhà vì không muốn chuyển ½ số tiền bán nhà qua Mỹ, từ đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn.

Năm 2019 anh về Việt Nam thì biết chị T đã làm hợp đồng công chứng tặng cho căn nhà nêu trên cho chị ruột là Nguyễn Thị Vân L, sau đó chị L làm hợp đồng công chứng tặng cho căn nhà trên ngược lại chị T. Khi anh hỏi thì chị T trả lời bây giờ anh không có quyền gì trong căn nhà này.

Xuất phát từ việc làm nêu trên, nên tình cảm giữa anh và chị T đã hết, anh hủy bỏ hồ sơ bảo lãnh và từ đó vợ chồng sống ly thân. Nay chị T yêu cầu ly hôn, đề nghị Tòa giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về con chung: anh và chị Nguyễn Thị Minh T có hai con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh 06/5/2008.

Về nuôi con: Các con gần đủ 18 tuổi, đề nghị tòa giải quyết theo nguyện vọng của hai con. Nếu các con có nguyện vọng ở với cha thì anh sẽ bảo lãnh sang Hoa Kỳ, còn các con có nguyện vọng ở với mẹ thì chị T có trách nhiệm nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng hàng tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết phân chia tài sản chung; nợ chung, anh tự chịu trách nhiệm chi trả, không yêu cầu tòa giải quyết.

Hiện nay anh lao động và sinh sống ở nước ngoài (Hoa Kỳ), việc đi lại gặp nhiều khó khăn, nên đề nghị hòa giải và xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đề nghị HĐXX cho chị Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với anh Phạm Văn T1, giao hai con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh 06/5/2008 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét. Về tài sản chung: chị T và anh T1 không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn T1 hiện đang cư trú ở Hoa Kỳ, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định được quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh T, bị đơn anh Phạm Văn T1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh T và anh Phạm Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/5/2018 tại UBND thành phố Q, nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo chị T: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung; anh T1 không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chia sẻ quay về Việt nam, hay bảo lãnh mẹ con chị qua nước Mỹ. Nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn T1 để ổn định cuộc sống. Còn anh Phạm Văn T1 cũng thừa nhận: Do chị T làm thủ tục chuyển nhượng tài sản chung là nhà đất đứng tên riêng chị T, nên phát sinh mâu thuẫn. Nay tình cảm giữa anh và chị T đã hết, chị T yêu cầu ly hôn, đề nghị Tòa giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật.

Cho thấy, chị T và anh T1 không còn yêu thương, tin tưởng, quan tâm lẫn nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn T1 là có căn cứ được quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh T1 thống nhất có hai con chung là là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh 06/5/2008. Ly hôn chị T yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của hai con được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Chị T và anh T1 thống nhất không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Theo chị T, vợ chồng không có nợ chung; việc anh T1 khai có nợ chung chị không hay biết. Còn anh T1 cho rằng trong thời kỳ hôn nhân có mượn anh chị em, người thân nhưng không nêu cụ thể số tiền nợ, nợ ai tên gì, ở đâu nên HĐXX không có căn cứ xem xét giải quyết cùng trong vụ án này. Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chị Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với anh Phạm Văn T1.
  2. Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Minh T và anh Phạm Văn T1 có hai con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh 06/5/2008.

    Về nuôi con: chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng hai con là Phạm Văn K, sinh ngày 20/01/2007 và Phạm Minh Á, sinh 06/5/2008.

    Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Minh T không yêu cầu anh Phạm Văn T1 cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.

  3. Tài sản chung: chị Nguyễn Thị Minh T và anh Phạm Văn T1 thống nhất không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
  5. Về án phí: chị Nguyễn Thị Minh T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0000288 ngày 24/02/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ; anh Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Định;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger