Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/KDTM-PT

Ngày 01/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

cung cấp lắp đặt hệ thống phòng

cháy chữa cháy và chống sét

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành.

Ông Nguyễn Văn Dũ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 tháng 3, ngày 24 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2023/TLPT-KDTM ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2023/QĐ-PT ngày 04/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Q; địa chỉ trụ sở: Đường N, khu công nghiệp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên lạc: Số A, đường Q, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Đức N; địa chỉ: Lầu C, Tòa nhà V, số D đường Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2024 - có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hải V - Luật sư của Công ty TNHH A thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ trụ sở: Số C, Quốc Lộ A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ hiện nay: Số B, đường T, khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn theo văn bản ủy quyền số 0705A/2004/QĐ ngày 07/5/2024:

  1. Bà Phan Thảo H (có mặt),
  2. Bà Nguyễn Thị T (vắng mặt),
  3. Bà Nguyễn Kiều Minh U (có mặt),

Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Công ty TNHH Một thành viên Q, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án:

Ngày 19/6/2021, Công ty TNHH Một thành viên Q (sau đây viết tắt là Công ty Q) ký hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét số 07/2021/HĐKT-PCCC với Công ty TNHH X (sau đây viết tắt là Công ty X), theo đó Công ty Q thanh toán cho Công ty X tổng số tiền 880.000.000 đồng để Công ty X nhận thầu lắp đặt hệ thống thiết bị phòng cháy chữa cháy và chống sét công trình xây dựng nhà máy C.

Sau khi ký kết, nhằm tạo điều kiện cho Công ty X sớm thực hiện các hạng mục công trình để Công ty Q được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, Công ty Q đã thanh toán cho Công ty X số tiền đợt 1 là 160.000.000 đồng. Công ty Q cho rằng công trình đã xây dựng hoàn thiện phần thô nhưng Công ty X không thực hiện theo tiến độ đã cam kết. Công ty Q đã nhiều gọi điện, gửi công văn đề nghị thực hiện theo đúng tiến độ nhưng Công ty X không hợp tác, không tiếp tục thực hiện hợp đồng. Việc Công ty X không thực hiện đúng hợp đồng làm tiến độ dự án bị chậm trễ, gây thiệt hại cho Công ty Q.

Công ty Q yêu cầu Tòa án giải quyết, hủy bỏ Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021. Buộc Công ty X trả lại cho Công ty Q số tiền đã thanh toán đợt 1 là 160.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại cho Công ty Q số tiền là 70.400.000 đồng, tương ứng 8% giá trị hợp đồng và trả chi phí 800.000.000 đồng chênh lệch do ký lại hợp đồng với đơn vị khác; tổng cộng là 1.030.400.000 đồng.

- Theo Đơn phản tố và trình bày của phía bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án:

Công ty X cho rằng đã chuyển toàn bộ vật tư đến công trình của Công ty Q, do Công ty này chưa hoàn thành phần thô công trình và bàn giao cho Công ty X nên Công ty X không có lỗi theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021.

Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời phản tố yêu cầu Tòa án hủy bỏ Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021; buộc nguyên đơn trả lại cho bị đơn toàn bộ vật liệu, thiết bị trị giá 645.268.470 đồng theo các biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào, biên bản giao nhận lập vào các ngày 25/6/2021, 13/7/2021, 18/9/2021, 10/11/2021 và 07/01/2022 và bồi thường thiệt hại số tiền 186.800.000 đồng do làm hư hại 01 máy bơm chữa cháy động cơ Diezel có Q = 100l/s, H= 80mH20; 01 máy bơm chữa cháy động cơ Điện có Q = 100l/s, H= 80mH20.

Tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng. Đồng thời, do các vật tư, thiết bị mà bị đơn đã tập hợp hết đến công trình bị nguyên đơn thuê bên thứ ba thi công nên thay đổi yêu cầu phản tố thành buộc nguyên đơn trả giá trị của toàn bộ số vật tư theo dự toán đính kèm Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 là 800.000.000 đồng (đã trừ thuế 10%).

- Tại Bản án số 09/2023/KDTM-ST ngày 05/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

“- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 94, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 117; Điều 513 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 12, khoản 13 Điều 4; Điều 302, Điều 303; Điều 313; Điều 314 của Luật Thương mại 2005; khoản 2, khoản 4, khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1:
    • - Hủy bỏ Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 thiết bị phòng cháy chữa cháy Đại Vương.
    • - Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 thiết bị phòng cháy chữa cháy Đại Vương trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 về việc: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 thiết bị phòng cháy chữa cháy Đại Vương bồi thường thiệt hại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 số tiền 870.400.000 đồng (tám trăm bảy mươi triệu bốn trăm nghìn đồng), (trong đó gồm: Số tiền 70.400.000 đồng tương ứng 8% giá trị hợp đồng và chi phí do ký lại hợp đồng với công ty khác số tiền 800.000.000 đồng).
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 thiết bị phòng cháy chữa cháy Đại Vương về việc: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 thiết bị phòng cháy chữa cháy Đại Vương số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).”

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Đến ngày 18/9/2023, Công ty Q có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị đơn thay đổi yêu cầu phản tố chỉ yêu cầu nguyên đơn trả lại giá trị vật tư theo Bảng chiết tính vật tư ngày 18/4/2023 với số tiền 586.607.700 đồng; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đề nghị đưa ông Dương Việt H1, ông Trần Thái H2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp và xem xét, đánh giá toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp để đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.

+ Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau:

Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty Q; áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc Công ty Q trả lại giá trị vật tư cho Công ty X số tiền 586.607.700 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, xem xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của Công ty Q được lập và nộp trực tiếp cho Tòa án cấp sơ thẩm cùng ngày 18/9/2023 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Q và Công ty X xác định đã ký Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 về việc cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét, theo đó Công ty Q (bên A) giao cho Công ty X (bên B) cung cấp, lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét tại dự án xây dựng nhà máy C tại đường N, khu công nghiệp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng với tổng giá trị hợp đồng là 880.000.000 đồng. Sau khi ký kết, bên A đã thanh toán đợt 1 cho bên B số tiền 160.000.000 đồng. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết, sự kiện này là có thật.

[3] Về nội dung, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực. Tại Điều 2, Điều 3 của hợp đồng, hai bên thỏa thuận về thời gian thực hiện và phương thức thanh toán như sau “Thời gian thực hiện: Theo tiến độ công trình. Sau khi hoàn thành xây dựng phần thô, khoảng 30 ngày sau sẽ hoàn thành lắp đặt hệ thống PCCC và chống sét” và “... Bên A thanh toán cho Bên B bằng chuyển khoản chia làm 03 đợt: + Đợt 1: Thanh toán 160.000.000₫ (một trăm sáu mươi triệu đồng) khi bên B đã tập hợp hết vật tư đến công trình...”. Công ty Q cho rằng Công ty X vi phạm thỏa thuận này do nguyên đơn đã thanh toán tiền đợt 01 nhưng bị đơn không chuyển vật tư và không thực hiện bất kỳ hạng mục công việc nào. Còn Công ty X xác định đã chuyển hết vật tư đến công trình của Công ty Q nên Công ty này mới thanh toán số tiền 160.000.000 đồng của đợt 01, nhưng do Công ty Q chưa hoàn thành xây dựng phần thô công trình để bàn giao cho Công ty X tiến hành thi công theo thỏa thuận. Từ đó hai bên cùng yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và đều cho rằng bên còn lại đã có hành vi vi phạm dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ.

[3.2] Đồng thời, liên quan việc xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ của Công ty X, mục 8.2 Điều 8 của Hợp đồng thể hiện “Hai bên chủ động thông báo cho nhau biết tiến độ thực hiện hợp đồng, nếu có vấn đề bất lợi và phát sinh các bên phải kịp thời thông báo cho nhau biết để thương lượng giải quyết (có lập biên bản) để làm căn cứ thanh toán về sau”. Theo các quy định này, khi Công ty Q hoàn thành xây dựng phần thô của công trình thì phải thông báo cho Công ty X biết để hoàn thành việc lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét trong thời gian khoảng 30 ngày, kể từ ngày được thông báo. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện Công ty Q đã thông báo về nội dung này, nên đây là hành vi vi phạm của Công ty Q làm cho Công ty X không thể thực hiện hợp đồng theo đúng thỏa thuận.

[3.3] Đồng thời, do hai bên thống nhất hủy Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy bỏ hợp đồng, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng đã nhận và không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại của nguyên đơn với số tiền 870.400.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 300, 302, 303, 312 và 314 của Luật Thương mại năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019).

[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về xác định tư cách ông Dương Việt H1 và ông Trần Thái H2, nội dung Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 thể hiện các bên không có thoả thuận cụ thể nào về người được đại diện Công ty Q trong việc giao nhận vật tư, thiết bị với Công ty X. Theo khoản 4.7 Điều 4 của hợp đồng này thì Công ty Q có trách nhiệm “...Cử cán bộ kỹ thuận giám sát, bàn giao về số lượng và chất lượng vật tư, thiết bị lắp đặt tại công trình trong suốt quá trình thi công” nên Biên bản giao nhận vật tư lập vào các ngày 25/6/2021, 13/7/2021, 18/9/2021 và Biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào lập ngày 10/11/2021 do Công ty X cung cấp thể hiện ông Dương Việt H1, ông Trần Thái H2 nhận vật tư, thiết bị là hoàn toàn phù hợp với thoả thuận này và đủ chứng minh Công ty X có giao nhận vật tư, thiết bị cho Công ty Q.

[5] Theo thoả thuận vừa nêu, Công ty Q không thừa nhận ông H1, ông H2 là nhân viên của công ty mình thì nghĩa vụ chứng minh là của Công ty Q, nhưng quá trình giải quyết vụ án Công ty này đã không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Đồng thời, việc Công ty X phản tố yêu cầu Công ty Q hoàn trả giá trị của số vật tư, thiết bị đã nhận theo các biên bản nêu trên không làm phát sinh quyền hay nghĩa vụ nào của ông H1, ông H2 ở giai đoạn thi hành án, nên việc giải quyết vụ án không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông H1, ông H2. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng và phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Đối với đề nghị của phía nguyên đơn về xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp và Công ty X không đủ điều kiện bàn giao vật tư, thiết bị do không có hoá đơn, chứng từ xác định nguồn gốc, xuất xứ và không có giấy chứng nhận kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy: Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Q cho rằng Công ty X chưa chuyển vật tư, thiết bị đến công trình, còn Công ty X yêu cầu Công ty Q trả giá trị của số vật tư, thiết bị đã nhận; đồng thời, hai bên thống nhất hủy bỏ Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 và giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng nên Hội đồng xét xử nhận thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ và xác định điều kiện bàn giao vật tư, thiết bị của Công ty X là không cần thiết cho việc giải quyết vụ án.

[7] Về đề nghị của nguyên đơn liên quan giá trị tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp:

[7.1] Án sơ thẩm căn cứ vào thỏa thuận “... Bên A thanh toán cho Bên B bằng chuyển khoản chia làm 03 đợt: Đợt 1: Thanh toán 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng) khi bên B đã tập hợp hết vật tư đến công trình” tại Điều 3 của Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021, cũng như việc Công ty X giao vật tư cho Công ty Q theo các Biên bản giao nhận vật tư, Biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào lập vào các ngày 25/6/2021, 13/7/2021, 18/9/2021, 10/11/2021 và việc Công ty Q thanh toán số tiền 160.000.000 đồng của đợt 1 cho Công ty X sau ngày hai bên giao nhận vật tư (theo ủy nhiệm chi số 946 ngày 27/01/2022) để xác định bị đơn đã tập hợp đầy đủ vật tư đến công trình của nguyên đơn, từ đó buộc nguyên đơn trả giá trị của toàn bộ số vật tư theo bản chi tiết Dự toán đính kèm Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 với số tiền 800.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở.

[7.2] Bởi lẽ, thỏa thuận trên nằm trong nội dung về phương thức thanh toán và thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Công ty Q trong 03 đợt tương ứng với tiến độ thực hiện hợp đồng của Công ty X, trong đó có 160.000.000 đồng là số tiền thanh toán của đợt 1. Liên quan việc đưa vật tư, thiết bị đến công trình, tại khoản 4.7 Điều 4 của hợp đồng, hai bên còn thoả thuận việc giám sát, bàn giao về số lượng và chất lượng vật tư, thiết bị trong quá trình thi công. Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, bị đơn cũng thừa nhận việc giao nhận vật tư, thiết bị được thực hiện thông qua các biên bản nghiệm thu, biên bản giao nhận với nguyên đơn, nên việc xác định số lượng, giá trị vật tư, thiết bị nguyên đơn đã nhận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do bị đơn chứng minh.

[7.3] Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn cũng thừa nhận đã giao cho nguyên đơn số vật tư, thiết bị không đầy đủ, không đúng số lượng và chủng loại so với bản chi tiết Dự toán đính kèm Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021. Vì vậy, theo nội dung thoả thuận về thanh toán sau khi chấm dứt hợp đồng tại khoản 4.16 Điều 4 của hợp đồng và quy định tại Điều 314 của Luật Thương mại năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019) thì Công ty Q chỉ có trách nhiệm thanh toán cho Công ty X giá trị của số vật tư, thiết bị mà Công ty Q đã nhận. Hồ sơ vụ án thể hiện Công ty X chỉ chứng minh được đã giao cho Công ty Q số vật tư, thiết bị theo bản chính Biên bản giao nhận vật tư lập vào các ngày 25/6/2021, ngày 13/7/2021, ngày 18/9/2021 và Biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào lập ngày 10/11/2021, nhưng đối chiếu với Dự toán đính kèm Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 thì các vật tư, thiết bị này chỉ trị giá là 291.463.060 đồng (không bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng). Riêng các thiết bị là Đế để cụm bơm bằng nhựa trong Biên bản nghiệm thu ngày 10/11/2021 và Đ sự cố, Ổ ruột gà trong Biên bản giao nhận vật tư lập vào các ngày 25/6/2021, 13/7/2021 do không có trong Dự toán đính kèm hợp đồng và bị đơn cũng không cung cấp được hoá đơn, chứng từ hợp lệ để xác định giá trị nên không có cơ sở buộc nguyên đơn thanh toán lại cho bị đơn.

[7.4] Do đó, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn với số tiền là 291.463.060 đồng (không bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng); phần yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận là 295.144.640 đồng (586.607.700 đồng - 291.463.060 đồng).

[8] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn; chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[9] Ngoài ra, án sơ thẩm ghi tên công ty của hai bên chưa chính xác với Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và xác định tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, nhưng lại quyết định về tiền lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là chưa đúng. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định của Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019).

[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[11] Do án sơ thẩm bị sửa nên án phí được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án như sau:

[11.1] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Nguyên đơn phải chịu 38.112.000 đồng do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và 14.573.153 đồng tương ứng phần yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận, tổng cộng là 52.685.153 đồng.

Bị đơn phải chịu 3.000.000 đồng án phí không có giá ngạch, 8.000.000 đồng tương ứng phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và 14.757.232 đồng tương ứng phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận; tổng cộng là 25.757.232 đồng.

[11.2] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên Q. Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và phần Quyết định được tuyên lại như sau:
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên Q:
      1. Hủy bỏ Hợp đồng kinh tế số 07/2021/HĐKT-PCCC ngày 19/6/2021 giữa Công ty TNHH Một thành viên Q và Công ty TNHH X lắp đặt thiết bị PCCC Đại Vương.
      2. Buộc Công ty TNHH X trả cho Công ty TNHH Một thành viên Q số tiền 160.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên Q về việc buộc Công ty TNHH X lắp đặt thiết bị PCCC Đại Vương bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 870.400.000 đồng.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH X lắp đặt thiết bị PCCC Đại Vương:
      1. Buộc Công ty TNHH Một thành viên Q trả cho Công ty TNHH X lắp đặt thiết bị PCCC Đại Vương giá trị số vật tư, thiết bị với số tiền là 291.463.060 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    1. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH X về việc buộc Công ty TNHH Một thành viên Q trả giá trị số vật tư, thiết bị với số tiền là 295.144.640 đồng.
  2. Về án phí:

    Công ty TNHH Một thành viên Q phải chịu 52.685.153 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, nhưng được trừ vào 21.456.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000599 ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Công ty TNHH Một thành viên Q còn phải nộp thêm 31.229.153 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    Công ty TNHH X lắp đặt thiết bị PCCC Đại Vương phải chịu 25.757.232 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, nhưng được trừ vào 4.970.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000860 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Công ty TNHH X còn phải nộp thêm 20.787.232 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    Công ty TNHH Một thành viên Q không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên Q số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0009667 ngày 18/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự, Phòng KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/KDTM-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét

  • Số bản án: 07/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và chống sét
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger