|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 09-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hứa Văn Hòa
- Ông Hoàng Văn Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn D, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1999 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Nông Thị V; vợ Lâm Thị L và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 04/4/2024 được áp dụng Biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt.
- Bị hại: Hoàng Văn C, sinh năm 1989. Có mặt.
Địa chỉ Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
- Người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nông Thị V, sinh năm 1967. Có mặt.
- Anh Long Văn V1, sinh năm 1997. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 12 năm 2023, bị cáo về thăm mẹ đẻ là Nông Thị V tại Thôn B, xã L, huyện V. Đến khoảng 22 giờ ngày 12/12/2023, bị cáo và Trần Huy H, sinh năm 1986; Đàm Văn T, sinh năm 1991,Trần Văn H1 cùng trú tại Thôn B, xã L, huyện V rủ nhau đến quán của Long Văn V1, sinh năm 1997 tại Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để ăn cháo đêm. Khi đến quán ngồi ăn, uống rượu được một lúc thì Trần Huy H đi về trước. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày Hoàng Văn C, sinh năm 1989, trú tại thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến bàn Trần Văn D ngồi uống rượu để giao lưu, Hoàng Văn C ngồi đối diện với bị cáo. Khoảng 00 giờ 15 phút 13/12/2023, Hoàng Văn C do đã uống nhiều rượu có hành động đập cốc, đập điện thoại xuống bàn, cởi áo ra. Khi thấy vậy bị cáo bực tức liền hất rổ rau vào Hoàng Văn C thì bị Hoàng Văn C hất cốc nước vào người bị cáo, sau đó bị cáo dùng tay phải cầm chiếc bát sứ ném vào vùng trán, phía trên mắt trái, dùng cốc nhựa và chổi nhựa đánh vào người Hoàng Văn C, chổi nhựa đánh không trúng Hoàng Văn C. Sau đó Hoàng Văn C và bị cáo lôi kéo nhau sang bàn bên cạnh, bị cáo tiếp tục cầm chiếc bát sứ trên bàn bên cạnh đập vào đỉnh đầu Hoàng Văn C, thấy Hoàng Văn C chảy máu, được mọi người can ngăn Trần Văn D dừng lại và đi về nhà. Hoàng Văn C được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện B. Ngày 13/12/2023 Hoàng Văn C chuyển ra Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 20/12/2023 ra viện.
Tại Kết luận giám định: 33/KLTTCT-TTPY, ngày 23/01/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Vết sẹo thương đỉnh trái: 01%; Sẹo vùng trán, cung mày mí trên mắt trái có kéo hở mi:11%; Sẹo vết thương đuôi cung mày trái: 03%; Chấn động não điều trị ổn định: 01%. Tổng tỷ lệ thương tật Hoàng Văn C là 15% ( Mười năm phần trăm). Theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSBG ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, đã truy tố các bị cáo Trần Văn D về tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích.
* Về căn cứ pháp luật và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 262; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Văn D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, người có quyền nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị V và anh Long Văn V1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 17 ( mười bảy) mảnh bát bằng sứ màu trắng đã bị vỡ vụn, có hình dạng và kích thước không xác định.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn D chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án Long Văn V1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó có nêu quan điểm đối với vụ án. Do đó, việc vắng mặt của anh Long Văn V1 không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà bị cáo Trần Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 13/12/2023 tại quán ăn của anh Long Văn V1 thuộc Thôn S, xã T, huyện B, do có mâu thuẫn nhỏ trong quán ăn, bị cáo có đã có hành vi cầm chiếc bát sứ ném vào vùng trán, phía trên mắt bên trái và dùng bát đập vào vùng đỉnh đầu anh Hoàng Văn C. Tại Kết luận giám định tỷ lệ thương tích số: 33/KLTTCT-TTPY, ngày 23/01/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ thương tật Hoàng Văn C là 15% ( Mười năm phần trăm). Hành vi của bị cáo đã phạm tội cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Do xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong quán ăn bị cáo đã có hành vi dùng bát sứ là hung khí nguy hiểm ném vào vùng đầu, đập vào đầu của bị hại Hoàng Văn C gây tỷ lệ thương tật Hoàng Văn C là 15% ( Mười năm phần trăm). Hành vi của bị cáo là cố ý, đã trực tiếp xâm phạm tới sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, nguyên nhân xảy ra vụ việc cũng có một phần lỗi của bị hại. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo tội danh, hình phạt đã quy định tại Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 30.000.000đ cho bị hại vào ngày 30/12/2023. Ông nội bị cáo là Trần Văn H2 (tên gọi khác là Trần H2) đã được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, được Chủ tịch nước tặng thưởng kháng chiến hạng nhất. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về nhân thân: Bị cáo là có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[8] Từ các căn cứ nêu trên, áp dụng Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bị cáo thỏa thuận và bồi thường cho bị hại số tiền là 30.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định phần trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong nên không xem xét.
[10] Đối với số tiền 30.000.000 đồng bồi thường cho bị hại là tiền của bà Nông Thị V. Việc bà đưa tiền để bồi thường thay cho bị cáo là tự nguyện, bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Anh Long Anh V2 không có yêu cầu bồi thường đối với chiếc bát bị hỏng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với nội dung này trong vụ án.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 17 ( mười bảy) mảnh bát bằng sứ màu trắng đã bị vỡ vụn, có hình dạng và kích thước không xác định là công vụ thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với nhưng vật chứng này là có căn cứ.
[12] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Bị cáo, bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 262; khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai năm ) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn năm ). Thời gian chấp hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Tịch tiêu hủy 17 ( mười bảy) mảnh bát bằng sứ màu trắng đã bị vỡ vụn, có hình dạng và kích thước không xác định.
Vật chứng trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia ngày 09/4/2024.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Khi |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 13/12/2023 tại quán ăn của anh Long Văn V1 thuộc Thôn S, xã T, huyện B, do có mâu thuẫn nhỏ trong quán ăn, bị cáo có đã có hành vi cầm chiếc bát sứ ném vào vùng trán, phía trên mắt bên trái và dùng bát đập vào vùng đỉnh đầu anh Hoàng Văn C. Tại Kết luận giám định tỷ lệ thương tích số: 33/KLTTCT-TTPY, ngày 23/01/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ thương tật Hoàng Văn C là 15% ( Mười năm phần trăm).
